“Bấy giờ họ tìm cách bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.”
(Ga: 7, 30)
Chúa Giêsu đã đến thế gian, để thi hành sứ vụ của Người là loan báo Tin Mừng về ơn cứu độ của Thiên Chúa, ơn cứu độ mà Cha ngài đã hoạch định cho muôn dân. Mặc dù, người Do thái đã được chứng kiến nhiều phép lạ Chúa Giêsu làm: chữa người mù sáng mắt, cho kẻ điếc nghe và người câm nói được... thậm chí, cả đến người chết cũng được Người chạm tay vào quan tài mà cho sống lại... thế nhưng, họ vẫn muốn tiêu diệt Người! Vì sao lại như vậy?
Cho dẫu là không thể phủ nhận những việc kinh thiên động địa mà Chúa Giêsu đã thực hiện trước con cái Ítraen, mấy ông kinh sư và thượng tế vẫn cứ tìm cớ nọ điều kia bắt bẻ ngõ hầu có thể hãm hại Người, để bọn họ tha hồ tác oai tác quái trên nỗi thống khổ của dân đen nghèo hèn. Quả là một bọn người tham lam và độc ác!
Kinh Thánh kể lại điều gì? “Bấy giờ họ tìm cách bắt Người, nhưng chẳng có ai tra tay bắt, vì giờ của Người chưa đến.” Vâng, họ rất muốn hãm hại Chúa Giêsu, nhưng lại chẳng có ai dám ra tay, vì “giờ của Người” chưa đến. Vậy, “giờ của Người” là gì? “Giờ của Người” là cái giờ phút Chúa Cha đã định sẵn, khi mà ngay cả một trong những môn đệ của Người cũng âm mưu bán Thầy, mong kiếm chút tài lộc. Hỡi ôi, tình đời chua chát đến vậy sao?
Chúa ơi, nhiều lúc Con cảm thấy chung quanh con có Nhiều kẻ muốn hại con, họ gièm pha con về đủ chuyện thị phi ở đời, chẳng kể những việc con đã làm mong đem lại cho họ những điều tốt đẹp. Những lúc ấy con đã muốn vứt bỏ tất cả để chỉ sống với bản thân, nhưng rồi ngọn lửa Thánh Thần mà Chúa đã đốt lên giữa trái tim con đã lại xốc con dậy, bảo con phải tiếp tục dấn thân. Ngọn lửa đó đã được hun đúc bởi những lời của Kinh Thánh, như lúc này đây, con đang cảm thấy trái tim mình ấm lại và quên hết những nỗi bực dọc chua chát. Con tin rằng, tất cả mọi sự ở đời đều diễn ra không ngoài thánh ý của Chúa Cha, Ngài đang từ trời cao nhìn xuống đời con bằng một ánh mắt nhân từ và khích lệ!
Lạy Chúa Giêsu! Xưa Chúa đã bị người đời hãm hại, bị môn đệ phản bội một cách đau đớn, nhưng, Chúa vẫn cam chịu hy sinh để toàn thành sứ mệnh Chúa Cha giao phó. Xin cho con một lòng quyết tâm theo Chúa, biết nhẫn chịu hy sinh vì lòng mến, để con có thể sống dấn thân phục vụ anh em đồng loại của con một cách vui tươi, Chúa nhé!
Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015
Thứ Năm, 19 tháng 3, 2015
NGHIỀN NGẪM VỀ CUỘC ĐỜI THÁNH CẢ
‘Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô : bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : "Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ." Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.’
(Mt: 1, 18-21, 24)
Đoạn Tin Mừng trên đây cô đọng chỉ trong mấy dòng chữ viết, nhưng đã diễn tả được rất nhiều điều về tính cách của thánh Giuse, một vị thánh được nhiều người gọi bằng cái tên trìu mến là Thánh Cả. Hôm nay toàn thể Giáo hội mừng kính lễ thánh Cả Giuse, cho tôi có dịp nghiền ngẫm nhiều về đời sống gương mẫu của thánh Cả, để mà yêu mến, để mà noi gương bắt chước ngài.
Ông Giuse chưa được biết gì về việc sứ thần Gabrien truyền tin cho trinh nữ Maria, cứ như lẽ thường tình và theo đúng luật lệ Môsê, thì ông Giuse phải đi tố cáo bà Maria trước làng nước về việc bà có thai, và rồi sẽ phải viết giấy ly dị với bà. Nhưng, ông Giuse là một con người độ lượng, ông đã không làm như thế ! Ông Giuse định tâm lìa bỏ bà Maria một cách kín đáo là một hành động khôn ngoan, vì hai lẽ: Thứ nhất, ông vẫn giữ đúng luật Môsê; thứ hai, ông đã tránh cho bà Maria khỏi bị ném đá, và điều này cũng thể hiện tính cách thương người của thánh Giuse nữa. Song, đấy chỉ là những suy nghĩ theo kiểu con người trần thế của tôi. Đang khi ông Giuse định tâm như vậy, thì sứ thần lại hiện ra với ông trong giấc mộng, báo cho ông đầy đủ mọi tin tức về Maria, việc thụ thai của Maria là do quyền năng Chúa Thánh Thần.
Và, “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.”Nếu là tôi, liệu tôi có tin vào giấc mộng như thế không?
Luồng suy nghĩ của tôi trải dài theo những sự việc kế tiếp có liên quan đến thánh Giuse. Cả một chuỗi sự kiện đã xảy ra, chứng minh cho tôi thấy mọi việc thánh Giuse làm đều theo đúng kế hoạch của Thiên Chúa. Có thể nói rằng, mọi quyết định của thánh Giuse đều thể hiện rõ niềm tin tưởng tuyệt đối của ngài đặt vào Thiên Chúa. Ví dụ như việc đưa Mẹ Maria và Hài nhi Giêsu trốn sang Aicập, cả một núi khó khăn trở ngại trước mắt, nếu với sức con người thì chẳng ai dám quyết định làm thế!
Tạ ơn Thánh Cả Giuse, ngài đã củng cố cho con niềm tin qua cuộc đời thầm lặng khiêm nhu, mà mau mắn vâng nghe làm theo thánh ý Chúa của ngài. Nhìn vào tấm gương của thánh Cả, con sẽ cố gắng bắt chước tinh thần hy sinh phục vụ, làm nhiều nói ít; của ngài, và xin ngài cầu bầu cùng Chúa cho con có được tấm lòng độ lượng bao dung như ngài.
Con cũng xin Thánh Cả cầu bầu cùng Chúa, ban cho các vị gia trưởng có được sự khôn ngoan và tinh thần phục vụ như ngài, để họ có thể lèo lái gia đình họ sống theo mẫu gương của Thánh gia thất xưa, góp phần đem lại hạnh phúc cho con người và cho xã hội. A-men!
(Mt: 1, 18-21, 24)
Đoạn Tin Mừng trên đây cô đọng chỉ trong mấy dòng chữ viết, nhưng đã diễn tả được rất nhiều điều về tính cách của thánh Giuse, một vị thánh được nhiều người gọi bằng cái tên trìu mến là Thánh Cả. Hôm nay toàn thể Giáo hội mừng kính lễ thánh Cả Giuse, cho tôi có dịp nghiền ngẫm nhiều về đời sống gương mẫu của thánh Cả, để mà yêu mến, để mà noi gương bắt chước ngài.
Ông Giuse chưa được biết gì về việc sứ thần Gabrien truyền tin cho trinh nữ Maria, cứ như lẽ thường tình và theo đúng luật lệ Môsê, thì ông Giuse phải đi tố cáo bà Maria trước làng nước về việc bà có thai, và rồi sẽ phải viết giấy ly dị với bà. Nhưng, ông Giuse là một con người độ lượng, ông đã không làm như thế ! Ông Giuse định tâm lìa bỏ bà Maria một cách kín đáo là một hành động khôn ngoan, vì hai lẽ: Thứ nhất, ông vẫn giữ đúng luật Môsê; thứ hai, ông đã tránh cho bà Maria khỏi bị ném đá, và điều này cũng thể hiện tính cách thương người của thánh Giuse nữa. Song, đấy chỉ là những suy nghĩ theo kiểu con người trần thế của tôi. Đang khi ông Giuse định tâm như vậy, thì sứ thần lại hiện ra với ông trong giấc mộng, báo cho ông đầy đủ mọi tin tức về Maria, việc thụ thai của Maria là do quyền năng Chúa Thánh Thần.
Và, “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.”Nếu là tôi, liệu tôi có tin vào giấc mộng như thế không?
Luồng suy nghĩ của tôi trải dài theo những sự việc kế tiếp có liên quan đến thánh Giuse. Cả một chuỗi sự kiện đã xảy ra, chứng minh cho tôi thấy mọi việc thánh Giuse làm đều theo đúng kế hoạch của Thiên Chúa. Có thể nói rằng, mọi quyết định của thánh Giuse đều thể hiện rõ niềm tin tưởng tuyệt đối của ngài đặt vào Thiên Chúa. Ví dụ như việc đưa Mẹ Maria và Hài nhi Giêsu trốn sang Aicập, cả một núi khó khăn trở ngại trước mắt, nếu với sức con người thì chẳng ai dám quyết định làm thế!
Tạ ơn Thánh Cả Giuse, ngài đã củng cố cho con niềm tin qua cuộc đời thầm lặng khiêm nhu, mà mau mắn vâng nghe làm theo thánh ý Chúa của ngài. Nhìn vào tấm gương của thánh Cả, con sẽ cố gắng bắt chước tinh thần hy sinh phục vụ, làm nhiều nói ít; của ngài, và xin ngài cầu bầu cùng Chúa cho con có được tấm lòng độ lượng bao dung như ngài.
Con cũng xin Thánh Cả cầu bầu cùng Chúa, ban cho các vị gia trưởng có được sự khôn ngoan và tinh thần phục vụ như ngài, để họ có thể lèo lái gia đình họ sống theo mẫu gương của Thánh gia thất xưa, góp phần đem lại hạnh phúc cho con người và cho xã hội. A-men!
Thứ Tư, 18 tháng 3, 2015
CHO CON NIỀM HY VỌNG
“Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình,
hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ?
Cho dù nó có quên đi nữa,
thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ.”
(Isaia: 49, 15)
Cha ơi!
Đứa con này là đứa con bướng bỉnh
Đã nhiều phen khiến lòng Cha đau đớn...!
Nhưng tình Cha như sóng lớn biển khơi
Có khi nào cạn vơi lòng thương xót
Cha đã trót yêu con tự thuở đời đời
Hằng chờ đợi con vươn tới mối tình Cha
Sao con vẫn là đứa con bướng bỉnh
Để tình Cha khắc khoải mãi không thôi!...
Ôi!
Tình Cha bao la hơn cả tình người mẹ ở trần gian
Vì yêu con, Cha đã phải nghiêng mình xuống thấp
Cha chẳng chấp tội con, mà ban ơn tha thứ chứa chan!!!
Cha đã hứa với con rằng:
“Ta sẽ chẳng quên ngươi,
Chẳng bao giờ Ta sẽ quên ngươi!”
Lời hứa của Cha, cho con niềm hy vọng!
Ôi!
Tình Cha như quả chín mọng trên cây
Chờ con đến hái về trong no thỏa!
Quả thật!
Con chẳng đáng trước tình Cha vòi vọi!
Con gọi Cha giữa tiếng nấc nghẹn ngào
Mà sung sướng, mà trào tuôn lệ ứa!
Cảm tạ Cha, vì Cha đã hứa: Chẳng quên con!
Xin cho con một lòng mến sắt son
Cho con giữ vẹn tròn lời Cha dạy
Để mỗi ngày là mỗi bước thăng hoa
Và mỗi phút giây, con sẽ có Cha như là nguồn hạnh phúc!
hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ?
Cho dù nó có quên đi nữa,
thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ.”
(Isaia: 49, 15)
Cha ơi!
Đứa con này là đứa con bướng bỉnh
Đã nhiều phen khiến lòng Cha đau đớn...!
Nhưng tình Cha như sóng lớn biển khơi
Có khi nào cạn vơi lòng thương xót
Cha đã trót yêu con tự thuở đời đời
Hằng chờ đợi con vươn tới mối tình Cha
Sao con vẫn là đứa con bướng bỉnh
Để tình Cha khắc khoải mãi không thôi!...
Ôi!
Tình Cha bao la hơn cả tình người mẹ ở trần gian
Vì yêu con, Cha đã phải nghiêng mình xuống thấp
Cha chẳng chấp tội con, mà ban ơn tha thứ chứa chan!!!
Cha đã hứa với con rằng:
“Ta sẽ chẳng quên ngươi,
Chẳng bao giờ Ta sẽ quên ngươi!”
Lời hứa của Cha, cho con niềm hy vọng!
Ôi!
Tình Cha như quả chín mọng trên cây
Chờ con đến hái về trong no thỏa!
Quả thật!
Con chẳng đáng trước tình Cha vòi vọi!
Con gọi Cha giữa tiếng nấc nghẹn ngào
Mà sung sướng, mà trào tuôn lệ ứa!
Cảm tạ Cha, vì Cha đã hứa: Chẳng quên con!
Xin cho con một lòng mến sắt son
Cho con giữ vẹn tròn lời Cha dạy
Để mỗi ngày là mỗi bước thăng hoa
Và mỗi phút giây, con sẽ có Cha như là nguồn hạnh phúc!
Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015
"BÊN BỜ HỒ"
‘Ở đó, có một người đau ốm đã ba mươi tám năm. Đức Giêsu thấy anh ta nằm đấy và biết anh sống trong tình trạng đó đã lâu, thì nói : "Anh có muốn khỏi bệnh không ?" Bệnh nhân đáp : "Thưa Ngài, khi nước khuấy lên, không có người đem tôi xuống hồ. Lúc tôi tới đó, thì đã có người khác xuống trước mất rồi !"’(Ga: 5, 5-7)
Đọc đoạn Tin Mừng hôm nay tôi chợt nhớ đến anh Phát, một người không những bị mù mà còn bị bại liệt nữa, anh nằm đó đã bao năm... chẳng biết có mấy người quan tâm... Trước đây, tôi thỉnh thoảng ghé thăm anh, chuyện trò với anh cho anh cảm thấy được sự quan tâm của bè bạn. Song, việc đi lại của tôi hơi bất tiện, tôi đã giới thiệu với anh một người bạn khuyết tật vận động có sử dụng xe ba bánh, để anh này thường xuyên quan tâm giúp đỡ anh. Thế rồi, tôi chỉ còn đến thăm anh vào mỗi dịp Tết hoặc lễ Giáng sinh, những bận bịu trong cuộc sống đã cuốn tôi đi rất xa, chẳng còn nhớ gì tới những nỗi cô đơn khắc khoải của anh Phát...
Như tôi đã nói, sau khi bàn giao anh Phát cho người bạn khuyết tật vận động xong, tôi ít đi thăm anh Phát lắm. Thỉnh thoảng có dịp gặp anh bạn KT, tôi hỏi thăm anh về tình hình của anh Phát, và cũng để mừng cho anh Phát đã có được một người bạn tốt như anh bạn KT của tôi.
Những người khuyết tật chúng tôi được trợ cấp hàng tháng, một khoản tiền tuy nhỏ cũng giúp ích cho chúng tôi rất nhiều trong cuộc sống. Mỗi năm chúng tôi còn được cấp phát một thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và được lãnh một khoản tiền Tết, đó là theo nghị định chung của chính phủ. Tôi đã được hưởng trợ cấp kể từ đầu năm 2012 một cách chẳng hề vất vả, và tôi cứ ngỡ rằng người khuyết tật nặng như anh Phát đương nhiên là sẽ được hưởng. Thế nhưng, cho đến cuối năm 2013, qua cuộc trò chuyện với anh bạn KT của tôi, tôi mới biết rằng anh Phát chưa được hưởng gì cả. Lý do thật đơn giản là vì anh Phát không thể tự đến bệnh viện để được giới chuyên môn xác định dạng khuyết tật. Anh bạn KT kể rằng, anh đã bỏ tiền ra thuê một chiếc taxi, nhờ 2 tình nguyện viên đến nhà khiêng anh Phát đến bệnh viện đa khoa của quận để được giám định y khoa. Anh ta cho rằng chỉ ít lâu nữa anh Phát sẽ được hưởng trợ cấp. Cũng trong buổi trò chuyện hôm đó, anh bạn KT cho biết, anh sắp sửa đi định cư ở nước ngoài, nghe tin này tôi cảm thấy thương anh Phát vì từ nay anh sẽ mất đi một người bạn để có thể chia sẻ tâm tư...
Ngày tháng trôi nhanh, mùa thu 2014, anh bạn KT gọi điện cho tôi từ nhà của anh Phát, tôi mới biết anh đã về lại Việt Nam để tránh cái lạnh của xứ người. Và tôi mừng là anh ta đã không quên anh Phát. Rồi anh bạn KT cũng đến thăm tôi, trong lúc tỉ tê chuyện trò, tôi mới biết chuyện anh Phát vẫn chưa được lãnh tiền trợ cấp, trong khi người tật nhẹ như tôi lại đã được hưởng trợ cấp của chính phủ gần 4 năm. Anh bạn KT tỏ ý phẫn nộ trước kiểu làm việc lề mề của cán bộ nhà nước, anh có ý định đi đăng chuyện này lên báo Tuổi Trẻ. Tôi đã ngăn anh lại và nói, anh chưa tìm hiểu kỹ sự việc ở địa phương mà đòi đăng báo, người ta chẳng giải quyết chuyện gì cho anh cả. Thế là tôi nhờ người nói chuyện với vị chủ tịch Hội người mù nơi tôi và anh Phát có tên trong danh sách thành viên, yêu cầu bà liên hệ với cán bộ địa phương nơi anh Phát sinh sống, để phần nào có một tác động đến cách làm việc của họ. Sau đó tôi nhận được phản hồi từ bà chủ tịch Hội người mù rằng, cán bộ phường ở đó người ta nói thân nhân của anh Phát không có yêu cầu gì họ cả, nên họ không giải quyết. Nghe vậy, tôi đã hiểu ra sự việc, tôi đốc thúc vợ anh Phát đến gạp bà chủ tịch Hội người mù, và nói rõ cho bà ta biết sự việc, rằng chị đã nhiều lần liên hệ với cán bộ, nhưng lần nào câu trả lời của họ cũng chỉ là một lời hứa suông. Biết vợ anh Phát là người hiền lành nhút nhát, nên tôi phải hết lòng chỉ vẽ và giải thích cho chị hiểu, lý do tại sao tôi khuyên chị đến gặp chủ tịch Hội người mù nhờ bà can thiệp... Và rồi, kể từ ngày 1/1/2015, anh Phát bắt đầu được hưởng tiền trợ cấp, điều mà lý ra anh đã phải nhận được từ đầu năm 2012. Thật là một sự việc quá trễ tràng, nhưng dù sao bây giờ có cũng còn hơn không. Kết quả của sự việc đã khiến tôi phải xem xét lại chính mình. Đôi khi, chỉ vì sự thiếu quan tâm của tôi mà người anh em tôi cứ phải nằm chờ đợi “bên bờ hồ” một cách đáng tiếc. Đôi khi, chỉ cần tôi cố gắng một chút, thì nỗi khó khăn nào đó của người anh em tôi sẽ được giải quyết một cách hiệu quả... Vậy mà tôi đã chẳng mấy cố gắng, thật là đáng trách cho tôi!
Lạy Chúa! Hôm nay Chúa nhắc nhở con về sự thiếu quan tâm của con đối với những người anh em còn đang phải nằm đấy trong nỗi bất hạnh. Những người anh em đó phải nằm chờ đợi “bên bờ hồ” vì sự thiếu quan tâm của con, xin cho con luôn biết quan tâm và sẵn sàng tiếp sức cho họ, để họ có thể di dời khỏi tình trạng phải chờ đợi và có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời họ, Chúa nhé!
Đọc đoạn Tin Mừng hôm nay tôi chợt nhớ đến anh Phát, một người không những bị mù mà còn bị bại liệt nữa, anh nằm đó đã bao năm... chẳng biết có mấy người quan tâm... Trước đây, tôi thỉnh thoảng ghé thăm anh, chuyện trò với anh cho anh cảm thấy được sự quan tâm của bè bạn. Song, việc đi lại của tôi hơi bất tiện, tôi đã giới thiệu với anh một người bạn khuyết tật vận động có sử dụng xe ba bánh, để anh này thường xuyên quan tâm giúp đỡ anh. Thế rồi, tôi chỉ còn đến thăm anh vào mỗi dịp Tết hoặc lễ Giáng sinh, những bận bịu trong cuộc sống đã cuốn tôi đi rất xa, chẳng còn nhớ gì tới những nỗi cô đơn khắc khoải của anh Phát...
Như tôi đã nói, sau khi bàn giao anh Phát cho người bạn khuyết tật vận động xong, tôi ít đi thăm anh Phát lắm. Thỉnh thoảng có dịp gặp anh bạn KT, tôi hỏi thăm anh về tình hình của anh Phát, và cũng để mừng cho anh Phát đã có được một người bạn tốt như anh bạn KT của tôi.
Những người khuyết tật chúng tôi được trợ cấp hàng tháng, một khoản tiền tuy nhỏ cũng giúp ích cho chúng tôi rất nhiều trong cuộc sống. Mỗi năm chúng tôi còn được cấp phát một thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và được lãnh một khoản tiền Tết, đó là theo nghị định chung của chính phủ. Tôi đã được hưởng trợ cấp kể từ đầu năm 2012 một cách chẳng hề vất vả, và tôi cứ ngỡ rằng người khuyết tật nặng như anh Phát đương nhiên là sẽ được hưởng. Thế nhưng, cho đến cuối năm 2013, qua cuộc trò chuyện với anh bạn KT của tôi, tôi mới biết rằng anh Phát chưa được hưởng gì cả. Lý do thật đơn giản là vì anh Phát không thể tự đến bệnh viện để được giới chuyên môn xác định dạng khuyết tật. Anh bạn KT kể rằng, anh đã bỏ tiền ra thuê một chiếc taxi, nhờ 2 tình nguyện viên đến nhà khiêng anh Phát đến bệnh viện đa khoa của quận để được giám định y khoa. Anh ta cho rằng chỉ ít lâu nữa anh Phát sẽ được hưởng trợ cấp. Cũng trong buổi trò chuyện hôm đó, anh bạn KT cho biết, anh sắp sửa đi định cư ở nước ngoài, nghe tin này tôi cảm thấy thương anh Phát vì từ nay anh sẽ mất đi một người bạn để có thể chia sẻ tâm tư...
Ngày tháng trôi nhanh, mùa thu 2014, anh bạn KT gọi điện cho tôi từ nhà của anh Phát, tôi mới biết anh đã về lại Việt Nam để tránh cái lạnh của xứ người. Và tôi mừng là anh ta đã không quên anh Phát. Rồi anh bạn KT cũng đến thăm tôi, trong lúc tỉ tê chuyện trò, tôi mới biết chuyện anh Phát vẫn chưa được lãnh tiền trợ cấp, trong khi người tật nhẹ như tôi lại đã được hưởng trợ cấp của chính phủ gần 4 năm. Anh bạn KT tỏ ý phẫn nộ trước kiểu làm việc lề mề của cán bộ nhà nước, anh có ý định đi đăng chuyện này lên báo Tuổi Trẻ. Tôi đã ngăn anh lại và nói, anh chưa tìm hiểu kỹ sự việc ở địa phương mà đòi đăng báo, người ta chẳng giải quyết chuyện gì cho anh cả. Thế là tôi nhờ người nói chuyện với vị chủ tịch Hội người mù nơi tôi và anh Phát có tên trong danh sách thành viên, yêu cầu bà liên hệ với cán bộ địa phương nơi anh Phát sinh sống, để phần nào có một tác động đến cách làm việc của họ. Sau đó tôi nhận được phản hồi từ bà chủ tịch Hội người mù rằng, cán bộ phường ở đó người ta nói thân nhân của anh Phát không có yêu cầu gì họ cả, nên họ không giải quyết. Nghe vậy, tôi đã hiểu ra sự việc, tôi đốc thúc vợ anh Phát đến gạp bà chủ tịch Hội người mù, và nói rõ cho bà ta biết sự việc, rằng chị đã nhiều lần liên hệ với cán bộ, nhưng lần nào câu trả lời của họ cũng chỉ là một lời hứa suông. Biết vợ anh Phát là người hiền lành nhút nhát, nên tôi phải hết lòng chỉ vẽ và giải thích cho chị hiểu, lý do tại sao tôi khuyên chị đến gặp chủ tịch Hội người mù nhờ bà can thiệp... Và rồi, kể từ ngày 1/1/2015, anh Phát bắt đầu được hưởng tiền trợ cấp, điều mà lý ra anh đã phải nhận được từ đầu năm 2012. Thật là một sự việc quá trễ tràng, nhưng dù sao bây giờ có cũng còn hơn không. Kết quả của sự việc đã khiến tôi phải xem xét lại chính mình. Đôi khi, chỉ vì sự thiếu quan tâm của tôi mà người anh em tôi cứ phải nằm chờ đợi “bên bờ hồ” một cách đáng tiếc. Đôi khi, chỉ cần tôi cố gắng một chút, thì nỗi khó khăn nào đó của người anh em tôi sẽ được giải quyết một cách hiệu quả... Vậy mà tôi đã chẳng mấy cố gắng, thật là đáng trách cho tôi!
Lạy Chúa! Hôm nay Chúa nhắc nhở con về sự thiếu quan tâm của con đối với những người anh em còn đang phải nằm đấy trong nỗi bất hạnh. Những người anh em đó phải nằm chờ đợi “bên bờ hồ” vì sự thiếu quan tâm của con, xin cho con luôn biết quan tâm và sẵn sàng tiếp sức cho họ, để họ có thể di dời khỏi tình trạng phải chờ đợi và có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời họ, Chúa nhé!
Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015
ĐỨC TIN CỦA TÔI
‘Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Caphácnaum. Khi nghe tin Đức Giêsu từ Giuđê đến Galilê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. Đức Giêsu nói với ông : "Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu !" Viên sĩ quan nói : "Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất !" Đức Giêsu bảo : "Ông cứ về đi, con ông sống." Ông tin vào lời Đức Giêsu nói với mình, và ra về.’ (Ga: 4, 46-50)
Trong cuộc sống thường nhật của tôi, có biết bao điều kỳ diệu đã xảy ra, khiến cho tôi tin vào Chúa Giêsu một cách chắc chắn. Vậy nhưng, khi những gì làm cho tôi cảm thấy mình được bàn tay Chúa quan phòng một cách rõ ràng đã qua đi, liệu tôi có còn lòng tin mạnh mẽ vào Ngài hay không? Và khi cuộc sống trở lại với nhịp độ bình thường của nó, tôi có giữ lại được cho mình tinh thần sốt sắng, như kiểu ông thánh Phêrô muốn làm lều cho Chúa Giêsu lúc còn ở trên đỉnh núi Tabo hay không?
Đoạn Tin Mừng hôm nay kể về câu chuyện viên sĩ quan cận vệ của nhà vua đã khá tin vào Chúa, là một điều đáng để cho tôi phải suy nghĩ lại về đức tin của mình. Thật sự, những khó khăn bế tắc xảy ra với những người chung quanh đã khiến cho tôi nhiều lúc gần như buông xuôi, mặc dù miệng tôi vẫn nói câu: “Phó thác mọi sự cho Chúa!”, nhưng trong lòng thì chẳng còn mấy hy vọng... những lúc ấy, may thay, tôi đã chọn cho mình cách khôn ngoan nhất là xin vâng theo thánh ý Chúa. Tuy nhiên, tôi nhận ra rằng, mình cũng như bao nhiêu người khác, chỉ mong mỏi được nhìn thấy dấu lạ điềm thiêng, chứ chưa thật sự dám đón nhận những gian nan và đau khổ trong cuộc đời một cách quyết liệt, để rồi sẽ được Chúa ban cho sự biến đổi như con sâu chịu đau đớn để được lột xác thành bướm. Nếu như tôi đã chạy đến cầu xin với Chúa về một điều gì đó cực kỳ bức thiết, giống như viên sĩ quan đã xin Chúa cứu sống con của ông, thì chắc có lẽ tôi chẳng thể nào hoàn toàn tin rằng điều đó sẽ xảy ra. Đầu óc tôi sẽ lại quay ra suy nghĩ lung tung, tôi sẽ lại cho rằng mình đang thách thức Chúa, và lúc đó sẽ là lúc đức tin của tôi đang teo nhỏ dần... Thế nhưng, thường khi tôi xin được vâng theo thánh ý Chúa, tôi cảm thấy tâm hồn rất bình an. Vì thế, trong những trường hợp có người nhờ tôi cầu nguyện cho họ, tôi thường cầu xin Chúa ban cho họ những điều họ cần, kèm theo đó tôi xin Chúa ban cho họ được cảm thấy bình an trong tâm hồn tựa như tôi đã từng được cảm nhận. Chỉ khi đó tôi mới có thể “ra về” giống như viên sĩ quan kia, nghĩa là tôi sẽ “tin vào lời Đức Giêsu nói với mình, và ra về”
Lạy Chúa! Đức tin của con thật là mong manh nhỏ bé giữa cuộc đời này, xin Chúa hãy gìn giữ nó trong bàn tay yêu thương bao la của Chúa, để nó được lớn lên và tỏa cháy giữa lòng đời. Xin cho con luôn biết sống đúng với những gì con đã tin, để con được trở nên một chứng nhân cho Chúa. Xin cho con luôn biết gieo mầm tin yêu vào những mảnh đất tâm hồn còn đang cằn cỗi vì chưa nhận biết Chúa, để cuộc đời này sẽ được trở nên xanh tươi như lòng Chúa ước mong, Chúa nhé!
Trong cuộc sống thường nhật của tôi, có biết bao điều kỳ diệu đã xảy ra, khiến cho tôi tin vào Chúa Giêsu một cách chắc chắn. Vậy nhưng, khi những gì làm cho tôi cảm thấy mình được bàn tay Chúa quan phòng một cách rõ ràng đã qua đi, liệu tôi có còn lòng tin mạnh mẽ vào Ngài hay không? Và khi cuộc sống trở lại với nhịp độ bình thường của nó, tôi có giữ lại được cho mình tinh thần sốt sắng, như kiểu ông thánh Phêrô muốn làm lều cho Chúa Giêsu lúc còn ở trên đỉnh núi Tabo hay không?
Đoạn Tin Mừng hôm nay kể về câu chuyện viên sĩ quan cận vệ của nhà vua đã khá tin vào Chúa, là một điều đáng để cho tôi phải suy nghĩ lại về đức tin của mình. Thật sự, những khó khăn bế tắc xảy ra với những người chung quanh đã khiến cho tôi nhiều lúc gần như buông xuôi, mặc dù miệng tôi vẫn nói câu: “Phó thác mọi sự cho Chúa!”, nhưng trong lòng thì chẳng còn mấy hy vọng... những lúc ấy, may thay, tôi đã chọn cho mình cách khôn ngoan nhất là xin vâng theo thánh ý Chúa. Tuy nhiên, tôi nhận ra rằng, mình cũng như bao nhiêu người khác, chỉ mong mỏi được nhìn thấy dấu lạ điềm thiêng, chứ chưa thật sự dám đón nhận những gian nan và đau khổ trong cuộc đời một cách quyết liệt, để rồi sẽ được Chúa ban cho sự biến đổi như con sâu chịu đau đớn để được lột xác thành bướm. Nếu như tôi đã chạy đến cầu xin với Chúa về một điều gì đó cực kỳ bức thiết, giống như viên sĩ quan đã xin Chúa cứu sống con của ông, thì chắc có lẽ tôi chẳng thể nào hoàn toàn tin rằng điều đó sẽ xảy ra. Đầu óc tôi sẽ lại quay ra suy nghĩ lung tung, tôi sẽ lại cho rằng mình đang thách thức Chúa, và lúc đó sẽ là lúc đức tin của tôi đang teo nhỏ dần... Thế nhưng, thường khi tôi xin được vâng theo thánh ý Chúa, tôi cảm thấy tâm hồn rất bình an. Vì thế, trong những trường hợp có người nhờ tôi cầu nguyện cho họ, tôi thường cầu xin Chúa ban cho họ những điều họ cần, kèm theo đó tôi xin Chúa ban cho họ được cảm thấy bình an trong tâm hồn tựa như tôi đã từng được cảm nhận. Chỉ khi đó tôi mới có thể “ra về” giống như viên sĩ quan kia, nghĩa là tôi sẽ “tin vào lời Đức Giêsu nói với mình, và ra về”
Lạy Chúa! Đức tin của con thật là mong manh nhỏ bé giữa cuộc đời này, xin Chúa hãy gìn giữ nó trong bàn tay yêu thương bao la của Chúa, để nó được lớn lên và tỏa cháy giữa lòng đời. Xin cho con luôn biết sống đúng với những gì con đã tin, để con được trở nên một chứng nhân cho Chúa. Xin cho con luôn biết gieo mầm tin yêu vào những mảnh đất tâm hồn còn đang cằn cỗi vì chưa nhận biết Chúa, để cuộc đời này sẽ được trở nên xanh tươi như lòng Chúa ước mong, Chúa nhé!
Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2015
CÁI NHÌN QUA LĂNG KÍNH CỦA TÌNH YÊU
“Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.”
(Ga: 3, 14-15)
Hình ảnh con rắn đồng được giương cao trong sa mạc để mọi người nhìn lên thì khỏi phải chết vì bị rắn cắn, MỘT SỰ THỰC trong lịch sử ĐÃ ĐƯỢC CHỨNG MINH RẰNG CÓ BÀN TAY CỦA Thiên Chúa nhúng vào. Hình ảnh con rắn đồng được giương cao trong sa mạc đó, đã báo trước cho sự việc Ngôi Hai Thiên Chúa sẽ chịu chết treo trên thập giá để cứu chuộc nhân loại. Những người bị rắn cắn trong lúc đi cùng ông Mô-sê chỉ cần nhìn lên con rắn đồng, thì liền được thoát chết. Song, để được cứu rỗi, không phải chỉ bằng một cử chỉ là nhìn lên Thánh giá, mà còn đòi hỏi ta phải tin vào Đức Giê-su Ki-tô nữa.
Trong những năm tháng vượt qua sa mạc để vào vùng Đất Hứa, dân Ít-ra-en đã trải qua biết bao gian nan khổ cực, lòng tin của họ đặt vào Thiên Chúa sao mà dễ ngả nghiêng đến thế! Than trách Chúa, rồi lại tin Chúa, rồi lại than trách... Đọc Cựu Ước, tôi có nhận xét như vậy về người dân Ít-ra-en. Song, tôi nào có khác gì họ, những năm tháng gian khổ trong cuộc đời đôi khi cũng đã làm tôi phải nản lòng, ngả nghiêng. Và rồi trong cơn bế tắc, không còn cách nào khác, tôi chỉ còn biết nhìn lên Thập giá mà thôi. Thập giá vẫn là cây thập giá, nhưng cái chết treo trên đó không còn u ám nữa! Cái chết gục đầu với mão gai nhọn sắc, và các vết roi lằn da đổ máu, các dấu đinh chân tay đã trở nên sống động trước mắt tôi. Lạ thay! Khi mọi sự tưởng chừng như bế tắc, tôi lại có một đích điểm sống cho đời mình, mà tôi biết chắc đích điểm đó sẽ dẫn tôi đến sự sống đời đời. Làm sao tôi có thể khẳng định như vậy chứ? Càng nhìn ngắm thập giá Chúa Ki-tô, tôi càng học được nhiều bài học hữu ích cho bản thân, và chính những bài học này đã kéo tôi ra khỏi cơn bế tắc của đời mình. Ánh mắt của Chúa Giê-su trên thập giá đã dạy tôi biết nhẫn nại chịu đựng và nhận ra được sự bất lực của khả năng con người, để từ đó tôi biết cậy trông vào tình yêu của Chúa hơn.
Chính khi nhìn lên cái chết trên thập giá của Chúa Giê-su, MỘT CÁI NHÌN TỪ TRONG TRÍ TƯỞNG TƯỢNG CỦA NGƯỜI MÙ, tôi đã nhận ra giá trị của sự đau khổ. Tôi hiểu rằng, sự đau khổ cũng như cái chết trên thập giá là cách thức mà Chúa đã dùng để cứu rỗi tôi. Giờ đây, tôi đã biết chấp nhận đau khổ như một liều thuốc đắng để chữa bệnh, còn việc chịu đựng được đến đâu thì tôi hoàn toàn cậy trông vào Chúa. Làm sao có thể kể hết những gì tôi đã trải nghiệm trong những tháng ngày một mình với bóng tối? Cho dù là tôi sống giữa bao nhiêu người thân, nhưng bóng tối của sự mù lòa đã ngăn cách tôi với họ. Tôi như người đứng ngoài cuộc đời mà nhìn vào thế giới xưa cũ, vì tôi đã ở vào một thế giới hoàn toàn khác hẳn, trong đó chỉ có một mình tôi... không tiền của, không sức khỏe, không việc làm... Chính trong hoàn cảnh đó, tôi đã nghe được tiếng Chúa, đã cảm nghiệm được Chúa đang chạm đến tôi, qua những cơn đau cả về tinh thần lẫn thể xác. Và rồi cứ thế, Người dắt tôi đi qua thung lũng tối, ánh sáng từ thập giá Chúa Ki-tô đã tỏa chiếu trong tôi. Tôi nhận ra mình không đơn độc, Chúa vẫn ở với tôi qua người thân bạn hữu! Một người mù như tôi vẫn có thể đi dạo trong công viên mỗi ngày, để được nghe tiếng lá rơi, tiếng chim hót trong lành, và để được hít lấy hương thơm dìu dịu của cỏ dại dưới chân. Một người mù như tôi vẫn có thể đem lại sự lạc quan yêu đời cho một ai đó đang khi tuyệt vọng. Một người mù như tôi vẫn có thể làm thơ để nói về Chúa, với Chúa, cho Chúa và trong Chúa... Tại sao tôi lại không viết những dòng chữ để ca ngợi tình yêu của Chúa Ki-tô trên thập giá?
Chúa ơi! Giờ đây, con lại trở về với thế giới xưa cũ, và nhìn nó bằng một cái nhìn đầy hy vọng, vì cái nhìn của con đã đi qua lăng kính của tình yêu Thượng Đế. Những khó khăn trong cuộc đời không còn làm con ngả nghiêng nữa, vì con đã có chỗ dựa vững chắc là cây thập giá của Chúa rồi. Mỗi khi gặp gian nan, đau khổ con sẽ nhìn lên đó để được Chúa đỡ nâng.
Lạy Chúa! Lúc này đây, con nghĩ đến những người đang gặp thử thách, họ đang chơi vơi không một điểm tựa. Xin Chúa hãy nhìn xuống họ khi họ chưa biết nhìn lên tới Chúa, để họ cũng được cứu rỗi. Xin Chúa hãy nói với họ, chạm đến họ như đã từng nói với con và đã chạm vào tận đáy lòng con. Đặc biệt, con nguyện xin cho anh chị em khuyết tật của con, xin cho họ luôn biết nhìn đời qua lăng kính của tình yêu Thượng đế, để họ luôn cảm thấy được chân giá trị của bản thân họ giữa cuộc đời này, Chúa nhé!
(Ga: 3, 14-15)
Hình ảnh con rắn đồng được giương cao trong sa mạc để mọi người nhìn lên thì khỏi phải chết vì bị rắn cắn, MỘT SỰ THỰC trong lịch sử ĐÃ ĐƯỢC CHỨNG MINH RẰNG CÓ BÀN TAY CỦA Thiên Chúa nhúng vào. Hình ảnh con rắn đồng được giương cao trong sa mạc đó, đã báo trước cho sự việc Ngôi Hai Thiên Chúa sẽ chịu chết treo trên thập giá để cứu chuộc nhân loại. Những người bị rắn cắn trong lúc đi cùng ông Mô-sê chỉ cần nhìn lên con rắn đồng, thì liền được thoát chết. Song, để được cứu rỗi, không phải chỉ bằng một cử chỉ là nhìn lên Thánh giá, mà còn đòi hỏi ta phải tin vào Đức Giê-su Ki-tô nữa.
Trong những năm tháng vượt qua sa mạc để vào vùng Đất Hứa, dân Ít-ra-en đã trải qua biết bao gian nan khổ cực, lòng tin của họ đặt vào Thiên Chúa sao mà dễ ngả nghiêng đến thế! Than trách Chúa, rồi lại tin Chúa, rồi lại than trách... Đọc Cựu Ước, tôi có nhận xét như vậy về người dân Ít-ra-en. Song, tôi nào có khác gì họ, những năm tháng gian khổ trong cuộc đời đôi khi cũng đã làm tôi phải nản lòng, ngả nghiêng. Và rồi trong cơn bế tắc, không còn cách nào khác, tôi chỉ còn biết nhìn lên Thập giá mà thôi. Thập giá vẫn là cây thập giá, nhưng cái chết treo trên đó không còn u ám nữa! Cái chết gục đầu với mão gai nhọn sắc, và các vết roi lằn da đổ máu, các dấu đinh chân tay đã trở nên sống động trước mắt tôi. Lạ thay! Khi mọi sự tưởng chừng như bế tắc, tôi lại có một đích điểm sống cho đời mình, mà tôi biết chắc đích điểm đó sẽ dẫn tôi đến sự sống đời đời. Làm sao tôi có thể khẳng định như vậy chứ? Càng nhìn ngắm thập giá Chúa Ki-tô, tôi càng học được nhiều bài học hữu ích cho bản thân, và chính những bài học này đã kéo tôi ra khỏi cơn bế tắc của đời mình. Ánh mắt của Chúa Giê-su trên thập giá đã dạy tôi biết nhẫn nại chịu đựng và nhận ra được sự bất lực của khả năng con người, để từ đó tôi biết cậy trông vào tình yêu của Chúa hơn.
Chính khi nhìn lên cái chết trên thập giá của Chúa Giê-su, MỘT CÁI NHÌN TỪ TRONG TRÍ TƯỞNG TƯỢNG CỦA NGƯỜI MÙ, tôi đã nhận ra giá trị của sự đau khổ. Tôi hiểu rằng, sự đau khổ cũng như cái chết trên thập giá là cách thức mà Chúa đã dùng để cứu rỗi tôi. Giờ đây, tôi đã biết chấp nhận đau khổ như một liều thuốc đắng để chữa bệnh, còn việc chịu đựng được đến đâu thì tôi hoàn toàn cậy trông vào Chúa. Làm sao có thể kể hết những gì tôi đã trải nghiệm trong những tháng ngày một mình với bóng tối? Cho dù là tôi sống giữa bao nhiêu người thân, nhưng bóng tối của sự mù lòa đã ngăn cách tôi với họ. Tôi như người đứng ngoài cuộc đời mà nhìn vào thế giới xưa cũ, vì tôi đã ở vào một thế giới hoàn toàn khác hẳn, trong đó chỉ có một mình tôi... không tiền của, không sức khỏe, không việc làm... Chính trong hoàn cảnh đó, tôi đã nghe được tiếng Chúa, đã cảm nghiệm được Chúa đang chạm đến tôi, qua những cơn đau cả về tinh thần lẫn thể xác. Và rồi cứ thế, Người dắt tôi đi qua thung lũng tối, ánh sáng từ thập giá Chúa Ki-tô đã tỏa chiếu trong tôi. Tôi nhận ra mình không đơn độc, Chúa vẫn ở với tôi qua người thân bạn hữu! Một người mù như tôi vẫn có thể đi dạo trong công viên mỗi ngày, để được nghe tiếng lá rơi, tiếng chim hót trong lành, và để được hít lấy hương thơm dìu dịu của cỏ dại dưới chân. Một người mù như tôi vẫn có thể đem lại sự lạc quan yêu đời cho một ai đó đang khi tuyệt vọng. Một người mù như tôi vẫn có thể làm thơ để nói về Chúa, với Chúa, cho Chúa và trong Chúa... Tại sao tôi lại không viết những dòng chữ để ca ngợi tình yêu của Chúa Ki-tô trên thập giá?
Chúa ơi! Giờ đây, con lại trở về với thế giới xưa cũ, và nhìn nó bằng một cái nhìn đầy hy vọng, vì cái nhìn của con đã đi qua lăng kính của tình yêu Thượng Đế. Những khó khăn trong cuộc đời không còn làm con ngả nghiêng nữa, vì con đã có chỗ dựa vững chắc là cây thập giá của Chúa rồi. Mỗi khi gặp gian nan, đau khổ con sẽ nhìn lên đó để được Chúa đỡ nâng.
Lạy Chúa! Lúc này đây, con nghĩ đến những người đang gặp thử thách, họ đang chơi vơi không một điểm tựa. Xin Chúa hãy nhìn xuống họ khi họ chưa biết nhìn lên tới Chúa, để họ cũng được cứu rỗi. Xin Chúa hãy nói với họ, chạm đến họ như đã từng nói với con và đã chạm vào tận đáy lòng con. Đặc biệt, con nguyện xin cho anh chị em khuyết tật của con, xin cho họ luôn biết nhìn đời qua lăng kính của tình yêu Thượng đế, để họ luôn cảm thấy được chân giá trị của bản thân họ giữa cuộc đời này, Chúa nhé!
Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2015
LỜI TRẦN TÌNH CỦA NGƯỜI CON GÁI
“Ta phải làm gì cho ngươi đây, Épraim hỡi ?
Ta phải làm gì cho ngươi, hỡi Giuđa ?
Tình yêu của các ngươi khác nào mây buổi sáng,
mau tan tựa sương mai. » (Hôsê : 6, 4)
Lúc con cần Chúa, thì liền ngay đã có Chúa ở kề bên, với ánh mắt chờ đợi và khích lệ. Con cảm thấy Chúa rất gần gũi với con, và lòng con rạo rực sốt sắng một tình yêu dâng Chúa. Nhưng rồi dọc đường trần ai, gió bụi đã cuốn con đi vào những ngã rẽ phù phiếm của nó, đã khiến con xa Chúa. Con đã quên rằng Chúa vẫn ở đó chờ con, chờ trong thinh lặng và buồn đau, vì tình con bạc bẽo và bởi vì tâm hồn con đầy những toan tính phù du. Chúa ơi ! Con hình dung ra ánh mắt Chúa đang nhìn con một cách kiên nhẫn, và Chúa như đang nói với con rằng:
:Ta phải làm gì cho con đây, con hỡi!
Tình yêu của con khác nào như mây buổi sáng,
Mau tan tựa sương mai. »
Những khi con chợt nhận ra mình đang rơi vào móng vuốt của bọn gian thần tiền tài, danh vọng, thì cũng là lúc tâm hồn đã nhuộm màu đen tối, lời nói và hành động có tính toán của con đã ảnh hưởng đến biết bao người ? Đã biết rằng, muốn vào vương quốc của Chúa thì phải qua cửa hẹp, và kinh nghiệm bản thân cũng cho con biết rằng cửa hẹp dẫn con đến gần Chúa hơn. Thế mà, chân con lại cứ rẽ vào con lộ rộng thênh thênh... vui thú chẳng được bao lâu, để rồi chuốc lấy muộn phiền đăng đẳng!
Sao Chúa lại im lặng mỗi khi con phụ bạc ? Phải chăng, những vấp ngã và đau đớn giữa đường đời là cách Ngài lên tiếng ? Nhưng giờ đây, con chẳng còn băn khoăn vì cớ gì Chúa đã làm như thế ! Con hoàn toàn tin tưởng rằng Chúa luôn có cách để kéo con về với Chúa, chỉ cần con muốn mà thôi! Vâng, Chúa ơi, con rất muốn mình có được tấm lòng yêu mến Chúa, và con ước chi mình sẽ yêu mến Chúa thật nhiều, để con sẽ không bỏ Chúa cô đơn một mình. Những tháng ngày qua, tình yêu của con dành cho Chúa đã quá hợt hời, và vị kỷ ! Con biết Chúa buồn nhiều vì con, nhưng tình Chúa bao dung, Chúa biết con đối xử tệ bạc mà Chúa vẫn thậm yêu... Nếu Chúa không yêu con, thì làm sao con có được niềm hạnh phúc như lúc này đây, con đang ngồi viết những lời trần tình với Chúa ?
Lạy Chúa ! Con chỉ là một hạt bụi nhỏ, chỉ là một giọt sương mai, mau tan trong thoáng chốc ! Xin Chúa hãy giơ tay hứng lấy giọt sương dễ vỡ này, để nó được bình an vô sự trong bàn tay quan phòng của Chúa luôn mãi !
Mẹ Maria ơi ! Xin Mẹ hãy là sợi dây liên lạc chặt chẽ giữa con và Chúa Giêsu, để tình yêu con dành cho Giêsu ngày càng thêm thắm thiết, Mẹ nhé !
Ta phải làm gì cho ngươi, hỡi Giuđa ?
Tình yêu của các ngươi khác nào mây buổi sáng,
mau tan tựa sương mai. » (Hôsê : 6, 4)
Lúc con cần Chúa, thì liền ngay đã có Chúa ở kề bên, với ánh mắt chờ đợi và khích lệ. Con cảm thấy Chúa rất gần gũi với con, và lòng con rạo rực sốt sắng một tình yêu dâng Chúa. Nhưng rồi dọc đường trần ai, gió bụi đã cuốn con đi vào những ngã rẽ phù phiếm của nó, đã khiến con xa Chúa. Con đã quên rằng Chúa vẫn ở đó chờ con, chờ trong thinh lặng và buồn đau, vì tình con bạc bẽo và bởi vì tâm hồn con đầy những toan tính phù du. Chúa ơi ! Con hình dung ra ánh mắt Chúa đang nhìn con một cách kiên nhẫn, và Chúa như đang nói với con rằng:
:Ta phải làm gì cho con đây, con hỡi!
Tình yêu của con khác nào như mây buổi sáng,
Mau tan tựa sương mai. »
Những khi con chợt nhận ra mình đang rơi vào móng vuốt của bọn gian thần tiền tài, danh vọng, thì cũng là lúc tâm hồn đã nhuộm màu đen tối, lời nói và hành động có tính toán của con đã ảnh hưởng đến biết bao người ? Đã biết rằng, muốn vào vương quốc của Chúa thì phải qua cửa hẹp, và kinh nghiệm bản thân cũng cho con biết rằng cửa hẹp dẫn con đến gần Chúa hơn. Thế mà, chân con lại cứ rẽ vào con lộ rộng thênh thênh... vui thú chẳng được bao lâu, để rồi chuốc lấy muộn phiền đăng đẳng!
Sao Chúa lại im lặng mỗi khi con phụ bạc ? Phải chăng, những vấp ngã và đau đớn giữa đường đời là cách Ngài lên tiếng ? Nhưng giờ đây, con chẳng còn băn khoăn vì cớ gì Chúa đã làm như thế ! Con hoàn toàn tin tưởng rằng Chúa luôn có cách để kéo con về với Chúa, chỉ cần con muốn mà thôi! Vâng, Chúa ơi, con rất muốn mình có được tấm lòng yêu mến Chúa, và con ước chi mình sẽ yêu mến Chúa thật nhiều, để con sẽ không bỏ Chúa cô đơn một mình. Những tháng ngày qua, tình yêu của con dành cho Chúa đã quá hợt hời, và vị kỷ ! Con biết Chúa buồn nhiều vì con, nhưng tình Chúa bao dung, Chúa biết con đối xử tệ bạc mà Chúa vẫn thậm yêu... Nếu Chúa không yêu con, thì làm sao con có được niềm hạnh phúc như lúc này đây, con đang ngồi viết những lời trần tình với Chúa ?
Lạy Chúa ! Con chỉ là một hạt bụi nhỏ, chỉ là một giọt sương mai, mau tan trong thoáng chốc ! Xin Chúa hãy giơ tay hứng lấy giọt sương dễ vỡ này, để nó được bình an vô sự trong bàn tay quan phòng của Chúa luôn mãi !
Mẹ Maria ơi ! Xin Mẹ hãy là sợi dây liên lạc chặt chẽ giữa con và Chúa Giêsu, để tình yêu con dành cho Giêsu ngày càng thêm thắm thiết, Mẹ nhé !
Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2015
CHA DẮT CON ĐI DƯỚI ÁNH MẶT TRỜI
« Với Ít-ra-en Ta sẽ như làn sương mai
làm nó vươn lên như bông huệ,
cho bén rễ sâu như cây ngàn Li băng.
Họ sẽ đâm chồi nẩy lộc, sum sê tựa ôliu tươi tốt,
Tỏa hương thơm ngát như rừng Li băng.
Chúng sẽ trở về cư ngụ dưới bóng Ta,
sẽ làm cho lúa miến hồi sinh nơi đồng ruộng,
tựa vườn nho, chúng sẽ sinh sôi nẩy nở,
danh tiếng lẫy lừng như rượu Li băng. » (Hôsê : 14, 6-8)
Vâng, thưa Cha!
con đã trở về ... cư ngụ dưới bóng Cha
Giữa bốn bề đêm tối, Cha đã nâng con dậy.
Cha đã đến như một làn sương mai
Qua sự hiện hữu của Ngôi Hai chí thánh
Người đã lấy đi gánh ưu phiền
Cho con có niềm tin vươn lên như nhánh huệ.
Trí tuệ Ngài làm sao con hiểu thấu ?
Mỗi thánh ý Ngài đã len vào hồn con như làn gió
Nhẹ nhàng thôi, mà như bó đuốc soi đường
Dường như hạt cải thôi, mà sao bén rễ thật sâu !
Lời Ngôi Hai là Minh Châu đá quý
Cho con ngợp tình yêu trong ý chí của Ngài
Dẫn con vào vùng đất hồi sinh trải dài theo ngút mắt...
Cha dắt con đi dưới ánh mặt trời
Lời Ngài tỏa hương thơm của tình yêu hiến tế
Đôi tay Ngài tỏ uy thế của trời cao
Ánh mắt Ngài tựa trăng sao vời vợi
Gieo vào lòng con sự an nghỉ thảnh thơi ...
Cha ơi !
Con xin được làm thân lúa miến
Xin được một đời mục nát với thời gian
Để ơn Cha ban từ trong con sẽ nảy lộc đâm chồi...
Cha ơi !
Con đã hồi sinh từ trong tháng ngày tăm tối
Tình Cha đối với con như men rượu xứ Li-băng
Đã tăng sức cho hồn con trỗi dậy
Con trông cậy vào tình Cha luôn mãi
Để ngày ngày được cùng Cha đi dưới ánh mặt trời !
làm nó vươn lên như bông huệ,
cho bén rễ sâu như cây ngàn Li băng.
Họ sẽ đâm chồi nẩy lộc, sum sê tựa ôliu tươi tốt,
Tỏa hương thơm ngát như rừng Li băng.
Chúng sẽ trở về cư ngụ dưới bóng Ta,
sẽ làm cho lúa miến hồi sinh nơi đồng ruộng,
tựa vườn nho, chúng sẽ sinh sôi nẩy nở,
danh tiếng lẫy lừng như rượu Li băng. » (Hôsê : 14, 6-8)
Vâng, thưa Cha!
con đã trở về ... cư ngụ dưới bóng Cha
Giữa bốn bề đêm tối, Cha đã nâng con dậy.
Cha đã đến như một làn sương mai
Qua sự hiện hữu của Ngôi Hai chí thánh
Người đã lấy đi gánh ưu phiền
Cho con có niềm tin vươn lên như nhánh huệ.
Trí tuệ Ngài làm sao con hiểu thấu ?
Mỗi thánh ý Ngài đã len vào hồn con như làn gió
Nhẹ nhàng thôi, mà như bó đuốc soi đường
Dường như hạt cải thôi, mà sao bén rễ thật sâu !
Lời Ngôi Hai là Minh Châu đá quý
Cho con ngợp tình yêu trong ý chí của Ngài
Dẫn con vào vùng đất hồi sinh trải dài theo ngút mắt...
Cha dắt con đi dưới ánh mặt trời
Lời Ngài tỏa hương thơm của tình yêu hiến tế
Đôi tay Ngài tỏ uy thế của trời cao
Ánh mắt Ngài tựa trăng sao vời vợi
Gieo vào lòng con sự an nghỉ thảnh thơi ...
Cha ơi !
Con xin được làm thân lúa miến
Xin được một đời mục nát với thời gian
Để ơn Cha ban từ trong con sẽ nảy lộc đâm chồi...
Cha ơi !
Con đã hồi sinh từ trong tháng ngày tăm tối
Tình Cha đối với con như men rượu xứ Li-băng
Đã tăng sức cho hồn con trỗi dậy
Con trông cậy vào tình Cha luôn mãi
Để ngày ngày được cùng Cha đi dưới ánh mặt trời !
Thứ Năm, 12 tháng 3, 2015
TIẾNG CHÚA VỌNG
“Nhưng điều Ta truyền cho chúng là : Hãy nghe tiếng Ta thì Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi, và các ngươi sẽ là dân của Ta. Hãy bước theo mọi đường lối Ta truyền dạy, để các ngươi được hạnh phúc. Nhưng chúng chẳng nghe, chẳng để tai, cứ theo những suy tính của mình, theo tâm địa ngoan cố xấu xa ; chúng đã lùi chứ không tiến.”
(Giêrêmia: 7, 23-24)
Lạy Đức Chúa của con!
con ngước nhìn lên trời cao xanh thẳm
nghe nỗi lòng trăn trở, con sầu muộn lắm Chúa ơi!
Bởi, con biết:
Tình Chúa vẫn thiết tha, nhưng tình con thì buông thả
Con để tâm hồn tất tả chạy theo những chuyện hư ảo phù du...
Hạnh phúc đâu chẳng thấy,
chỉ nghe tiếng lá thu rơi khô khốc giữa chợ đời!
Chuyện con người là muôn thuở bể dâu
Con sẽ về đâu giữa biển đời lận đận?
Chúa đã chẳng giận hờn con,
Ôi, Ngài! hôm nay còn nhắc nhở:
“Hãy bước theo mọi đường lối Ta truyền dạy, để các ngươi được hạnh phúc.”
Ôi, Giêsu! Vẫn cúc cung tận tụy!
Vẫn gục đầu trên Thánh giá lẻ loi!
Vì ả phụ tình này,
vẫn ngày ngày quen thói huyên thuyên,
chẳng chăm chuyên cầu nguyện,
chẳng gìn giữ miệng mồm!...
ả hứa rồi lại quên
ả để hồn lang thang theo tiếng gọi tục trần
bước chân ả lùi dần, ả chẳng tiến,
để Chúa buồn miên man trên giá gỗ!
Hôm nay ả nghĩ lại,
những dại khờ, ả xin Chúa thứ tha,
và tiếng Chúa vọng từ xa xăm bỗng tuôn chảy vào hồn!
những cánh hồng tình yêu bừng thắm lại
con trở về thực tại và nhìn lên Thánh giá.
Ôi, Giêsu, xin thánh hóa đời con
Con một lòng quyết theo Ngài lên núi sọ!
Đôi chân con xin tiến bước theo Ngài
Đường dặm dài mỗi ngày con dâng Chúa
Xin Chúa mãi là Thiên Chúa của con, là hạnh phúc của con, Chúa nhé!
(Giêrêmia: 7, 23-24)
Lạy Đức Chúa của con!
con ngước nhìn lên trời cao xanh thẳm
nghe nỗi lòng trăn trở, con sầu muộn lắm Chúa ơi!
Bởi, con biết:
Tình Chúa vẫn thiết tha, nhưng tình con thì buông thả
Con để tâm hồn tất tả chạy theo những chuyện hư ảo phù du...
Hạnh phúc đâu chẳng thấy,
chỉ nghe tiếng lá thu rơi khô khốc giữa chợ đời!
Chuyện con người là muôn thuở bể dâu
Con sẽ về đâu giữa biển đời lận đận?
Chúa đã chẳng giận hờn con,
Ôi, Ngài! hôm nay còn nhắc nhở:
“Hãy bước theo mọi đường lối Ta truyền dạy, để các ngươi được hạnh phúc.”
Ôi, Giêsu! Vẫn cúc cung tận tụy!
Vẫn gục đầu trên Thánh giá lẻ loi!
Vì ả phụ tình này,
vẫn ngày ngày quen thói huyên thuyên,
chẳng chăm chuyên cầu nguyện,
chẳng gìn giữ miệng mồm!...
ả hứa rồi lại quên
ả để hồn lang thang theo tiếng gọi tục trần
bước chân ả lùi dần, ả chẳng tiến,
để Chúa buồn miên man trên giá gỗ!
Hôm nay ả nghĩ lại,
những dại khờ, ả xin Chúa thứ tha,
và tiếng Chúa vọng từ xa xăm bỗng tuôn chảy vào hồn!
những cánh hồng tình yêu bừng thắm lại
con trở về thực tại và nhìn lên Thánh giá.
Ôi, Giêsu, xin thánh hóa đời con
Con một lòng quyết theo Ngài lên núi sọ!
Đôi chân con xin tiến bước theo Ngài
Đường dặm dài mỗi ngày con dâng Chúa
Xin Chúa mãi là Thiên Chúa của con, là hạnh phúc của con, Chúa nhé!
Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015
CHIẾC LA BÀN CỦA CON
"Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.”
(Mt: 5, 17)
Trong kinh thánh Cựu Ước có những câu đáng sợ như: "Mắt đền mắt, răng đền răng"... Khi còn niên thiếu, con nghe những cụm từ đó mà cảm thấy lạnh cả xương sống, tưởng tượng ra có người đang nhổ từng cái răng của mình với cặp mắt đỏ ngầu... Lúc thì lại tưởng tượng ra có người đang móc mắt mình với hàm răng nhe ra rất đáng sợ... và lúc đó, con cảm thấy sợ Chúa, xa Chúa, chẳng thể nào coi Chúa là một người Cha nhân từ được!
Khi con chăm chú tìm hiểu Thánh Kinh, con nhận ra rằng: Chúa Giêsu đã đến với con người, và đã mở ra Tân Ước cho chúng con có được một niềm hy vọng mới, niềm hy vọng giúp chúng con vui sống trên con đường lữ thứ trần gian. Mười điều răn và những lời khuyên bảo của Chúa: "Các con hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ đã làm hại các con"... chứa đựng những ý nghĩa hết sức thâm sâu! Con hiểu rằng, khi con nép mình vào tình yêu Thiên Chúa, con sẽ làm được những điều cực kỳ khó như việc cầu nguyện cho kẻ thù; và chỉ khi đó, con mới có thể yêu họ, đồng thời cũng là dịp để con được giải thoát khỏi những cay cú cắn đắng trong tâm hồn mình. Khi con biết cầu nguyện cho kẻ thù, con cảm thấy tâm hồn mình bình an và thanh thản trở lại...
Giữa Cựu ước và Tân ước là cả một khoảng cách thời gian vời vợi, giữa quan niệm xưa và nay là cả một khác biệt xa xôi. Song le, Chúa đã dựa trên nền tảng của yêu thương, mà tạo nên những điểm mấu chốt là “Mến Chúa và yêu người”, để kiện toàn lề luật xưa Chúa đã truyền dạy cho nhân loại qua thủ lãnh Môsê trung tín. Nói cách khác, sự kiện toàn Lề Luật của Chúa dựa trên nền tảng công bình và bác ái, đã định hướng cho chúng con một lối đi trọn lành để có thể hướng về quê trời.
Lạy Chúa! Con cảm tạ Chúa, vì Chúa đã ban cho nhân loại chúng con Mười Điều Răn của Chúa, nhờ vào những điều răn này chúng con như thể có được một chiếc la bàn định hướng cho mình giữa biển đời đầy rẫy những chông gai và sự dữ. Nếu không có chiếc la bàn ấy, con chẳng biết mình còn là con người như hôm nay không nữa, hay là hồn con đã bị chìm sâu trong tội lỗi.
Chúa đã đến để kiện toàn lề luật và để cứu độ chúng con, vì Chúa yêu thương hết thảy chúng con. Con cảm tạ Chúa, vì qua việc kiện toàn lề luật, Chúa đã giúp con nhận ra được gương mặt nhân hậu của người Cha trên trời. Nguyện xin Chúa giúp con luôn biết giữ mình trong khuôn khổ lề luật của Chúa, hoàn toàn dựa trên lòng mến Chúa và yêu người, để con luôn biết sống dung hòa với anh em đồng loại của con, Chúa nhé!
(Mt: 5, 17)
Trong kinh thánh Cựu Ước có những câu đáng sợ như: "Mắt đền mắt, răng đền răng"... Khi còn niên thiếu, con nghe những cụm từ đó mà cảm thấy lạnh cả xương sống, tưởng tượng ra có người đang nhổ từng cái răng của mình với cặp mắt đỏ ngầu... Lúc thì lại tưởng tượng ra có người đang móc mắt mình với hàm răng nhe ra rất đáng sợ... và lúc đó, con cảm thấy sợ Chúa, xa Chúa, chẳng thể nào coi Chúa là một người Cha nhân từ được!
Khi con chăm chú tìm hiểu Thánh Kinh, con nhận ra rằng: Chúa Giêsu đã đến với con người, và đã mở ra Tân Ước cho chúng con có được một niềm hy vọng mới, niềm hy vọng giúp chúng con vui sống trên con đường lữ thứ trần gian. Mười điều răn và những lời khuyên bảo của Chúa: "Các con hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ đã làm hại các con"... chứa đựng những ý nghĩa hết sức thâm sâu! Con hiểu rằng, khi con nép mình vào tình yêu Thiên Chúa, con sẽ làm được những điều cực kỳ khó như việc cầu nguyện cho kẻ thù; và chỉ khi đó, con mới có thể yêu họ, đồng thời cũng là dịp để con được giải thoát khỏi những cay cú cắn đắng trong tâm hồn mình. Khi con biết cầu nguyện cho kẻ thù, con cảm thấy tâm hồn mình bình an và thanh thản trở lại...
Giữa Cựu ước và Tân ước là cả một khoảng cách thời gian vời vợi, giữa quan niệm xưa và nay là cả một khác biệt xa xôi. Song le, Chúa đã dựa trên nền tảng của yêu thương, mà tạo nên những điểm mấu chốt là “Mến Chúa và yêu người”, để kiện toàn lề luật xưa Chúa đã truyền dạy cho nhân loại qua thủ lãnh Môsê trung tín. Nói cách khác, sự kiện toàn Lề Luật của Chúa dựa trên nền tảng công bình và bác ái, đã định hướng cho chúng con một lối đi trọn lành để có thể hướng về quê trời.
Lạy Chúa! Con cảm tạ Chúa, vì Chúa đã ban cho nhân loại chúng con Mười Điều Răn của Chúa, nhờ vào những điều răn này chúng con như thể có được một chiếc la bàn định hướng cho mình giữa biển đời đầy rẫy những chông gai và sự dữ. Nếu không có chiếc la bàn ấy, con chẳng biết mình còn là con người như hôm nay không nữa, hay là hồn con đã bị chìm sâu trong tội lỗi.
Chúa đã đến để kiện toàn lề luật và để cứu độ chúng con, vì Chúa yêu thương hết thảy chúng con. Con cảm tạ Chúa, vì qua việc kiện toàn lề luật, Chúa đã giúp con nhận ra được gương mặt nhân hậu của người Cha trên trời. Nguyện xin Chúa giúp con luôn biết giữ mình trong khuôn khổ lề luật của Chúa, hoàn toàn dựa trên lòng mến Chúa và yêu người, để con luôn biết sống dung hòa với anh em đồng loại của con, Chúa nhé!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)