‘Hồi ấy, bà Ma-ri-a vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét. Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng : "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.”’
(Lc: 1, 39-42)
Khoảng giữa năm 1999, tôi đã có một cuộc đi thăm viếng hết sức đặc biệt, và cuộc thăm viếng đó đã mở ra cho tôi nhiều suy nghĩ. Tại sao tôi lại gọi đó là cuộc thăm viếng đặc biệt? Thời gian đó tôi rất ít ra khỏi nhà, có đi đâu cũng chỉ là đi kiếm bác sĩ mà thôi. Nhưng lần đó tôi ra khỏi nhà là để đi thăm ông anh rể, chồng của chị Hai tôi. Anh ấy vừa trải qua một ca phẫu thuật, bác sĩ đã cắt đi của anh ấy 3 phần tư cái dạ dày. Trước đó, bác sĩ đã gọi riêng chị Hai tôi ra, để báo cho chị biết, anh ấy có một khối u ác tính trong bao tử. Chúng tôi đã bàn với nhau là sẽ không để cho anh ấy biết. Vì vậy, anh rể tôi đinh ninh cái bao tử của anh có khối u lành tính. Tôi còn nhớ như in buổi chiều hôm đó, tôi đến bệnh viện Chợ Rẫy vào đúng lúc nó bị cúp điện. Người nhà dắt tôi đi thở dài ngao ngán trước cái viễn cảnh phải leo bộ lên sáu tầng lầu, họ cứ chần chừ ở dưới chân thang và lo ngại cho tôi. Nhưng tôi quyết tâm hối thúc họ dắt tôi lên, chứ không chịu ngồi chờ thang máy.
Lên gần hết các bậc thang, thì khắp nơi đã chan hòa ánh sáng trở lại. Hai chân của tôi bình thường đi lại đã khó khăn, nay lại phải leo lên nhiều bậc thang như vậy, cộng thêm sức khỏe của tôi lúc đó rất xấu, vì thế lên tới được cửa phòng bệnh của anh rể là cả một vấn đề không nhỏ cho tôi. Không hiểu sức mạnh nào đã giúp tôi lên tới được tầng lầu thứ sáu, chỉ biết vừa leo thang tôi vừa nhớ đến ngắm thứ hai mùa vui, Đức Mẹ đi viếng bà thánh I-sa-ve cũng phải leo núi... nghĩ đến chặng đường xa của Đức Mẹ tôi quên mất chuyện leo thang của tôi chăng? Chị Hai tôi kể, vừa thấy tôi bước vào phòng, anh rể tôi ngóc đầu dậy, vẻ mặt hết sức ngạc nhiên và vui mừng. Bởi anh sống chung trong gia đình tôi, anh biết tôi mù lòa chẳng chịu đi đâu. Có lẽ không vướng mấy dây rợ luộm thuộm quanh người, anh ấy đã chạy ra đón tôi rồi. Tôi đến bên giường anh, vừa mở miệng hỏi “Anh đã bớt đau chưa?”, thì anh đã đưa bàn tay còn rảnh của anh ra nắm chặt lấy tay tôi, giọng anh hết sức xúc động:
-Thủy đi thăm anh chi cho cực vậy!
Tôi cười đáp lời anh:
-Em đi thăm anh cho anh mau lành bệnh, chóng được về nhà.
Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ cảm giác bị bàn tay anh xiết mạnh, đó là cả một biểu hiện mừng vui và xúc động trào dâng, vì anh hiểu tôi phải khó khăn thế nào mới vượt qua được bao trở ngại để lên thăm anh. Chị Hai tôi còn nói, mặt anh lúc ấy đỏ rực lên, tôi nghĩ đó là biểu hiện của sự vui mừng hạnh phúc vì được thăm viếng một cách đặc biệt.
Kể từ sau chuyến đi thăm ấy, tôi ý thức được rằng, việc một người khuyết tật đi thăm viếng một ai đó nó sẽ có tác dụng lớn hơn việc đi thăm viếng của một người bình thường. Hôm nay, đọc lại đoạn Tin Mừng trên đây, tôi lại có thêm suy nghĩ rằng, Đức Mẹ đang trong thời kỳ mang thai cũng gặp rất nhiều trở ngại, thế mà Đức Mẹ cũng đã rất vội vã để đi thăm cho được bà chị họ, vì Mẹ hiểu được nỗi khó khăn còn lớn hơn của bà chị họ mình. Đức Mẹ đi thăm chị họ đã mang lại cho chị họ một niềm vui, nhưng niềm vui còn lớn hơn nữa là Đức Mẹ đã mang Chúa đến cho chị họ của mình. Tôi cũng vậy, với những trở ngại của tôi, khi đi thăm ai đó là mang một niềm vui đến cho họ, và khi tôi ý thức được rằng tôi mang Chúa đến cho người mà tôi muốn viếng thăm thì niềm vui sẽ còn nhân lên gấp bội... và như thế, những trở ngại của tôi cứ nhỏ dần nhỏ dần, cho đến bây giờ đối với tôi nó là con số zero, bạn ạ!
Mẹ Maria yêu quý! Mẹ đã nêu gương cho chúng con trong việc quan tâm yêu thương người khác, xin Mẹ hãy hun đúc tình yêu trong chúng con, và giúp chúng con mang Chúa đến với mọi người sống chung quanh chúng con luôn, Mẹ nhé!
Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014
Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014
CỨ NÓI ĐI, ĐỪNG LÀM THINH!
‘Một đêm, Chúa bảo ông Phao-lô trong một thị kiến : "Đừng sợ ! Cứ nói đi, đừng làm thinh, vì Thầy ở với anh ; không ai tra tay hại anh được, vì Thầy có một dân đông đảo trong thành này."’
(Trích sách Tông-đồ Công Vụ: 18, 9-10)
Lời trên đây Chúa nói với thánh Phao-lô Tông-đồ, phải chăng Người cũng đang nói với tôi? “Thủy ơi, đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh, vì Thầy ở với con...” Thánh Phao-lô ngày xưa, sau khi ngã ngựa và được Chúa soi chiếu, ngài đã trở nên một vị Tông-đồ đầy nhiệt huyết đi rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại. Còn tôi, sau bao việc kỳ diệu Chúa đã làm cho tôi, tôi đã trở nên như thế nào?
Những năm tháng gần đây, tôi đã mạnh dạn làm chứng nhân cho Chúa, trước mặt cả những Ki-tô hữu lẫn những người không Ki-tô. Thế nhưng, có nhiều lúc tôi vẫn còn dè dặt. Tôi sợ người ta cười tôi nói khoác, tôi sợ người ta không mấy tin, tôi sợ những người ngoại đạo cho rằng tôi dụ dỗ họ... Nghĩa là, tôi sợ đủ thứ! Bởi thực tế đã xảy ra, một người mù Phật giáo được tôi rủ đi chơi Nha Trang cùng Huynh đoàn khuyết tật Ki-tô đã khước từ, với lý do cô ta sợ tôi rủ vào nhà thờ. Sau này, khi hiểu ra rằng tôi rủ cô đi chỉ vì muốn đem lại cho cô niềm vui chứ không có mục đích nào khác, cô ta cứ tiếc rẻ mãi. Một lần nọ, khi nghe tôi nói rằng, bây giờ tôi cảm thấy cuộc sống của mình rất tốt, tốt hơn cả trước kia tôi còn sáng mắt... người ta hỏi tôi rằng: “Có thật là chị vui như chị nói không? Hay là chị nói thế để tự lừa dối mình?”... Đấy là những phản ứng từ phía người nghe, bản thân tôi có tật nói nhiều, không nói thì thôi đã nói thì lại nói thiên thu bất tận, cái tật này tôi đã biết mà lại không sửa được. Vì thế, nhiều khi tôi đã nói chuyện Kinh thánh với người ngoại đạo cả một hai tiếng đồng hồ, rồi khi nhận ra mình nói quá nhiều thì lại hóa ra ngại! Hôm nay, Chúa nói với tôi: “Đừng sợ, cứ nói đi, đừng làm thinh, vì Thầy ở với con...”, tôi cảm thấy mình cần xét lại chính mình. Có thật là những khi tôi loan báo Tin Mừng, tôi đã hoàn toàn vì Chúa, hay là tôi muốn làm nổi trội “cái tôi” của mình? Nếu như tôi hoàn toàn nói những gì Chúa muốn, chứ không phải là nói những điều mình muốn, thì tôi chẳng có gì phải áy náy và e ngại cả. Vâng, nếu như tôi luôn nhớ được điều này, “Thầy ở với con”, thì tôi sẽ chỉ nói những gì Thầy muốn nói, và tôi sẽ không sợ gì mà phải làm thinh. Vả chăng, có bị ai cười, ai nghi ngờ, ai bực bội gì, mà vì Chúa thì tôi cũng vẫn sẽ nói. Tôi chưa đến nỗi bị ai bắt bớ, đánh đập như các Tông-đồ ngày xưa, mà tôi lại đã chùn bước, thì còn nói gì đến “tử vì đạo”?
Lạy Chúa! Xin cho con trở nên mạnh dạn, để con hăng say làm chứng nhân cho Chúa trước mặt mọi người. Xin cho con có can đảm, mà nói về Chúa cho những ai còn chưa biết Chúa, để họ sẽ được hưởng niềm vui đích thực, là niềm vui có Chúa trong đời. Xin cho con luôn ý thức được rằng, tất cả những gì con nói về Chúa là để tôn vinh Chúa, và chúc tụng Chúa mà thôi! Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. A-men
(Trích sách Tông-đồ Công Vụ: 18, 9-10)
Lời trên đây Chúa nói với thánh Phao-lô Tông-đồ, phải chăng Người cũng đang nói với tôi? “Thủy ơi, đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh, vì Thầy ở với con...” Thánh Phao-lô ngày xưa, sau khi ngã ngựa và được Chúa soi chiếu, ngài đã trở nên một vị Tông-đồ đầy nhiệt huyết đi rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại. Còn tôi, sau bao việc kỳ diệu Chúa đã làm cho tôi, tôi đã trở nên như thế nào?
Những năm tháng gần đây, tôi đã mạnh dạn làm chứng nhân cho Chúa, trước mặt cả những Ki-tô hữu lẫn những người không Ki-tô. Thế nhưng, có nhiều lúc tôi vẫn còn dè dặt. Tôi sợ người ta cười tôi nói khoác, tôi sợ người ta không mấy tin, tôi sợ những người ngoại đạo cho rằng tôi dụ dỗ họ... Nghĩa là, tôi sợ đủ thứ! Bởi thực tế đã xảy ra, một người mù Phật giáo được tôi rủ đi chơi Nha Trang cùng Huynh đoàn khuyết tật Ki-tô đã khước từ, với lý do cô ta sợ tôi rủ vào nhà thờ. Sau này, khi hiểu ra rằng tôi rủ cô đi chỉ vì muốn đem lại cho cô niềm vui chứ không có mục đích nào khác, cô ta cứ tiếc rẻ mãi. Một lần nọ, khi nghe tôi nói rằng, bây giờ tôi cảm thấy cuộc sống của mình rất tốt, tốt hơn cả trước kia tôi còn sáng mắt... người ta hỏi tôi rằng: “Có thật là chị vui như chị nói không? Hay là chị nói thế để tự lừa dối mình?”... Đấy là những phản ứng từ phía người nghe, bản thân tôi có tật nói nhiều, không nói thì thôi đã nói thì lại nói thiên thu bất tận, cái tật này tôi đã biết mà lại không sửa được. Vì thế, nhiều khi tôi đã nói chuyện Kinh thánh với người ngoại đạo cả một hai tiếng đồng hồ, rồi khi nhận ra mình nói quá nhiều thì lại hóa ra ngại! Hôm nay, Chúa nói với tôi: “Đừng sợ, cứ nói đi, đừng làm thinh, vì Thầy ở với con...”, tôi cảm thấy mình cần xét lại chính mình. Có thật là những khi tôi loan báo Tin Mừng, tôi đã hoàn toàn vì Chúa, hay là tôi muốn làm nổi trội “cái tôi” của mình? Nếu như tôi hoàn toàn nói những gì Chúa muốn, chứ không phải là nói những điều mình muốn, thì tôi chẳng có gì phải áy náy và e ngại cả. Vâng, nếu như tôi luôn nhớ được điều này, “Thầy ở với con”, thì tôi sẽ chỉ nói những gì Thầy muốn nói, và tôi sẽ không sợ gì mà phải làm thinh. Vả chăng, có bị ai cười, ai nghi ngờ, ai bực bội gì, mà vì Chúa thì tôi cũng vẫn sẽ nói. Tôi chưa đến nỗi bị ai bắt bớ, đánh đập như các Tông-đồ ngày xưa, mà tôi lại đã chùn bước, thì còn nói gì đến “tử vì đạo”?
Lạy Chúa! Xin cho con trở nên mạnh dạn, để con hăng say làm chứng nhân cho Chúa trước mặt mọi người. Xin cho con có can đảm, mà nói về Chúa cho những ai còn chưa biết Chúa, để họ sẽ được hưởng niềm vui đích thực, là niềm vui có Chúa trong đời. Xin cho con luôn ý thức được rằng, tất cả những gì con nói về Chúa là để tôn vinh Chúa, và chúc tụng Chúa mà thôi! Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. A-men
Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014
PHẢI QUA GIAN KHỔ MỚI TỚI NIỀM VUI
“Thật, Thầy bảo thật anh em : anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.”
(Ga: 16, 20)
Trước khi bước vào Cuộc thương khó, Chúa Giê-su đã báo cho các môn đệ biết, các ông sẽ phải khóc lóc và than van. Khóc lóc than van không những vì mất Thầy, mà còn vì các ông rồi sẽ gặp phải những phiền lụy do cái chết của Thầy mình. Các ông sẽ phải khóc lóc than van, trong khi thế gian vui mừng vì bọn họ tưởng rằng đã tiêu diệt được Thầy của các ông. Và thực tế đã xảy ra là các ông cũng tưởng rằng Thầy mình đã chết, còn nỗi buồn nào chua chát hơn! Song, Chúa Giê-su lúc đó cũng đã nói: “Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.” Ở vào thời điểm đó các môn đệ chẳng hiểu gì mấy về những lời báo trước của Chúa Giê-su, chỉ khi họ được thấy Chúa Giê-su Phục sinh, họ mới hiểu được niềm vui mà Thầy mình đã nói đến.
Chúa Giê-su đã dạy cho chúng ta một triết lý sống: Phải qua gian khổ mới tới niềm vui. Chính con đường thập giá của Chúa là một tấm gương cho chúng ta. Chúa đã trải qua mọi cảm giác đau khổ: bị môn đệ bỏ rơi trong cơn hoạn nạn, bị xử án một cách oan khiên vì những mưu đồ chính trị của mấy thượng tế Do-thái, chịu nhục mạ, chịu đánh đập và chấp nhận sỉ vả... chịu đóng đinh và chết trần truồng trên thập giá, để hoàn tất công cuộc Cứu Chuộc nhân loại mà Chúa Cha đã giao phó. Trước khi đi vào con đường thập giá, Chúa đã báo cho các môn đệ những gì họ sẽ phải trải qua, và đã dạy dỗ họ những điều cần phải làm sau khi Con Người ra đi. Nhưng, Chúa Giê-su cũng đã khẳng định “Niềm vui của anh Em không ai lấy mất được.” Đấy chính là phần thưởng Nước Trời cho những ai phải chịu đau khổ để bước đi theo Chúa. Cũng như Chúa Giê-su đã chấp nhận con đường thập giá với bao nhục nhằn thống khổ, để rồi Người đạt được niềm vui là đem lại sự tái sinh cho nhân loại, và đặc biệt là niềm vui làm đẹp lòng Chúa Cha.
Ngay từ lúc bắt đầu thu thập môn đệ, Chúa Giê-su đã từng nói: “Ai muốn theo Ta, hãy vác thập giá mình mà theo...“. Là một người theo Chúa, tôi sẽ phải chấp nhận những đau khổ, sẽ phải vác thập giá mình mà theo, phải đấu tranh với những cám dỗ ở đời... để thực thi Lời Chúa. Song, tôi được bảo đảm một phần thưởng trên Nước Trời, tôi sẽ được về hưởng hạnh phúc quê Trời cùng với Chúa. Vấn đề ở chỗ, làm sao tôi có thể vác thập giá mình một cách trung kiên? Tôi biết mình chẳng thể vượt qua những nỗi gian nan khổ sầu nếu như tôi không cậy dựa vào Chúa. Tôi đã tìm ra một cách thức để có thể vượt qua đau khổ, đó là bám chặt vào Đức Ki-tô, Phục sinh. Vâng, tôi biết mình phải sống bám vào Đức Ki-tô, Đấng đã chịu đóng đinh một cách ô nhục trên thập giá vì tôi, và đã Phục sinh vinh hiển. Chính Đức Ki-tô đã cậy dựa vào Chúa Cha như một tấm gương cho tôi noi theo. Trước giờ tử nạn, Người đã từng trải qua cơn sợ hãi đến đổ mồ hôi máu trong vườn Giệt. Tuy nhiên, Người đã tìm được sức mạnh nơi Chúa Cha, qua 3 lần cầu nguyện liên lỉ với Ngài dưới bóng trăng mờ ảo của vườn Giệt năm xưa. Vâng, tôi biết mình chỉ có thể tìm sức mạnh nơi Chúa mới trung kiên theo Chúa đến cùng mà thôi!
Lạy Chúa Ki-tô Phục sinh! Xin thương ban cho con sức mạnh của Chúa, để con có thể theo Chúa đến cùng. Xin Thập Giá của Chúa mãi là vầng trăng sáng cho con dõi bước. Và con cũng xin dâng lên Chúa tâm tình con chịu mọi nỗi gian lao trong đời, như những khúc ca làm vui lòng Chúa Cha trên trời vậy. A-men
(Ga: 16, 20)
Trước khi bước vào Cuộc thương khó, Chúa Giê-su đã báo cho các môn đệ biết, các ông sẽ phải khóc lóc và than van. Khóc lóc than van không những vì mất Thầy, mà còn vì các ông rồi sẽ gặp phải những phiền lụy do cái chết của Thầy mình. Các ông sẽ phải khóc lóc than van, trong khi thế gian vui mừng vì bọn họ tưởng rằng đã tiêu diệt được Thầy của các ông. Và thực tế đã xảy ra là các ông cũng tưởng rằng Thầy mình đã chết, còn nỗi buồn nào chua chát hơn! Song, Chúa Giê-su lúc đó cũng đã nói: “Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui.” Ở vào thời điểm đó các môn đệ chẳng hiểu gì mấy về những lời báo trước của Chúa Giê-su, chỉ khi họ được thấy Chúa Giê-su Phục sinh, họ mới hiểu được niềm vui mà Thầy mình đã nói đến.
Chúa Giê-su đã dạy cho chúng ta một triết lý sống: Phải qua gian khổ mới tới niềm vui. Chính con đường thập giá của Chúa là một tấm gương cho chúng ta. Chúa đã trải qua mọi cảm giác đau khổ: bị môn đệ bỏ rơi trong cơn hoạn nạn, bị xử án một cách oan khiên vì những mưu đồ chính trị của mấy thượng tế Do-thái, chịu nhục mạ, chịu đánh đập và chấp nhận sỉ vả... chịu đóng đinh và chết trần truồng trên thập giá, để hoàn tất công cuộc Cứu Chuộc nhân loại mà Chúa Cha đã giao phó. Trước khi đi vào con đường thập giá, Chúa đã báo cho các môn đệ những gì họ sẽ phải trải qua, và đã dạy dỗ họ những điều cần phải làm sau khi Con Người ra đi. Nhưng, Chúa Giê-su cũng đã khẳng định “Niềm vui của anh Em không ai lấy mất được.” Đấy chính là phần thưởng Nước Trời cho những ai phải chịu đau khổ để bước đi theo Chúa. Cũng như Chúa Giê-su đã chấp nhận con đường thập giá với bao nhục nhằn thống khổ, để rồi Người đạt được niềm vui là đem lại sự tái sinh cho nhân loại, và đặc biệt là niềm vui làm đẹp lòng Chúa Cha.
Ngay từ lúc bắt đầu thu thập môn đệ, Chúa Giê-su đã từng nói: “Ai muốn theo Ta, hãy vác thập giá mình mà theo...“. Là một người theo Chúa, tôi sẽ phải chấp nhận những đau khổ, sẽ phải vác thập giá mình mà theo, phải đấu tranh với những cám dỗ ở đời... để thực thi Lời Chúa. Song, tôi được bảo đảm một phần thưởng trên Nước Trời, tôi sẽ được về hưởng hạnh phúc quê Trời cùng với Chúa. Vấn đề ở chỗ, làm sao tôi có thể vác thập giá mình một cách trung kiên? Tôi biết mình chẳng thể vượt qua những nỗi gian nan khổ sầu nếu như tôi không cậy dựa vào Chúa. Tôi đã tìm ra một cách thức để có thể vượt qua đau khổ, đó là bám chặt vào Đức Ki-tô, Phục sinh. Vâng, tôi biết mình phải sống bám vào Đức Ki-tô, Đấng đã chịu đóng đinh một cách ô nhục trên thập giá vì tôi, và đã Phục sinh vinh hiển. Chính Đức Ki-tô đã cậy dựa vào Chúa Cha như một tấm gương cho tôi noi theo. Trước giờ tử nạn, Người đã từng trải qua cơn sợ hãi đến đổ mồ hôi máu trong vườn Giệt. Tuy nhiên, Người đã tìm được sức mạnh nơi Chúa Cha, qua 3 lần cầu nguyện liên lỉ với Ngài dưới bóng trăng mờ ảo của vườn Giệt năm xưa. Vâng, tôi biết mình chỉ có thể tìm sức mạnh nơi Chúa mới trung kiên theo Chúa đến cùng mà thôi!
Lạy Chúa Ki-tô Phục sinh! Xin thương ban cho con sức mạnh của Chúa, để con có thể theo Chúa đến cùng. Xin Thập Giá của Chúa mãi là vầng trăng sáng cho con dõi bước. Và con cũng xin dâng lên Chúa tâm tình con chịu mọi nỗi gian lao trong đời, như những khúc ca làm vui lòng Chúa Cha trên trời vậy. A-men
Thứ Tư, 28 tháng 5, 2014
NGƯỜI ĐÃ ĐẾN VÀ TÔI MỜI NGƯỜI Ở LẠI...
Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến.”
(Ga: 16,13)
Tôi có cảm nhận được Chúa ở cùng tôi, tôi tin Đức Ki-tô Giê-su Phục sinh, tôi tin Chúa Cha ở trên trời rất yêu thương tôi... tất cả những dấu chỉ khiến tôi cảm nhận được trên đời này tôi có Chúa, đều do bởi Thần Khí Chúa soi dẫn cho tôi. Vâng, chính Thần Khí Chúa đã làm cho tôi trở nên như ngày hôm nay. Kể từ khi tôi biết đón nhận Thần Khí sự thật, tôi đã nhận biết được một điều rất quan trọng: Chúa Giê-su chính là con đường cho tôi bước đi... Và cứ thế, con đường mở ra cho tôi biết bao điều kỳ diệu. Có thể nói, Thần Khí sự thật đã tự tìm đến với tôi, vì thật ra tôi đã không tìm Người. Thần Khí Chúa đã đến với tôi, và tôi đã mời Người ở lại với mình mỗi ngày. Khi tôi nghĩ suy hoặc làm một điều gì, mà lòng trí tôi biết hướng về Người, lập tức, tôi thấy được sức hoạt động của Người trào dâng trong tôi. Và, những việc tôi làm với sự hiện diện của Người đã mang lại cho tôi những kết quả tốt đẹp. Tốt đẹp ở đây dĩ nhiên không theo kiểu thế gian. Bởi thật sự, những kết quả trước mắt đôi khi là những điều trái ý, những khổ đau... nhưng thời gian sau đó, Người đã chỉ ra cho tôi hiểu tại sao tôi phải trải qua những trái ý, những khổ đau ấy...
Đặc biệt, Thần Khí sự thật đã cho tôi hiểu ra giá trị cao siêu của màu nhiệm thập giá, một màu nhiệm mà có lẽ ít ai trên đời này lại yêu thích, bởi nó gắn liền với sự đau khổ. Song le, tôi yêu thích màu nhiệm ấy, bởi chính nhờ hiểu ra giá trị của màu nhiệm thập Giá Chúa Ki-tô, mà tôi đã từ một con người mù lòa khô khan lại trở nên một người thích làm thơ ca tụng Chúa. Nếu không có Thần Khí sự thật ở trong tôi, thúc giục tôi thì có lẽ giờ này tôi đang chìm nghỉm trong một góc tối của địa ngục trần gian. Nếu Người đã không chỉ ra cho tôi thấy giá trị sâu xa của màu nhiệm Thập Giá, thì có lẽ giờ đây tôi đang ngồi than khóc cho số phận của mình một cách vật vã, chứ đâu thể ngồi đây viết về Người! Cuộc sống của tôi hiện nay rất sảng khoái, đến nỗi nhiều người đã ngạc nhiên khi họ gặp tôi. Họ không nghĩ tôi là một người mù, lại là một người mù đầy bệnh tật. Niềm tin mà Thần Khí sự thật mang lại cho tôi khiến tôi cũng tự tin hơn trong cuộc sống, đến nỗi tôi ít khi nào nghĩ đến sự mù lòa của mình, có nhiều tháng tôi đã quên hẳn nó, bạn ạ!
Lạy Chúa Giê-su! Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho con nhớ rằng, nhờ có Thần Khí của Chúa, con mới có sự sống và mới nhận ra sự hiện diện của Chúa trong đời mình. Xin cho con luôn biết kín múc lấy những ơn ích từ mạch suối linh thiêng của Người. Xin Chúa thương ban thần Khí Chúa đến cho mỗi người chúng con một cách dồi dào, để chúng con có thể nhận ra và sống đúng theo thánh ý của Cha trên trời, Chúa nhé!
(Ga: 16,13)
Tôi có cảm nhận được Chúa ở cùng tôi, tôi tin Đức Ki-tô Giê-su Phục sinh, tôi tin Chúa Cha ở trên trời rất yêu thương tôi... tất cả những dấu chỉ khiến tôi cảm nhận được trên đời này tôi có Chúa, đều do bởi Thần Khí Chúa soi dẫn cho tôi. Vâng, chính Thần Khí Chúa đã làm cho tôi trở nên như ngày hôm nay. Kể từ khi tôi biết đón nhận Thần Khí sự thật, tôi đã nhận biết được một điều rất quan trọng: Chúa Giê-su chính là con đường cho tôi bước đi... Và cứ thế, con đường mở ra cho tôi biết bao điều kỳ diệu. Có thể nói, Thần Khí sự thật đã tự tìm đến với tôi, vì thật ra tôi đã không tìm Người. Thần Khí Chúa đã đến với tôi, và tôi đã mời Người ở lại với mình mỗi ngày. Khi tôi nghĩ suy hoặc làm một điều gì, mà lòng trí tôi biết hướng về Người, lập tức, tôi thấy được sức hoạt động của Người trào dâng trong tôi. Và, những việc tôi làm với sự hiện diện của Người đã mang lại cho tôi những kết quả tốt đẹp. Tốt đẹp ở đây dĩ nhiên không theo kiểu thế gian. Bởi thật sự, những kết quả trước mắt đôi khi là những điều trái ý, những khổ đau... nhưng thời gian sau đó, Người đã chỉ ra cho tôi hiểu tại sao tôi phải trải qua những trái ý, những khổ đau ấy...
Đặc biệt, Thần Khí sự thật đã cho tôi hiểu ra giá trị cao siêu của màu nhiệm thập giá, một màu nhiệm mà có lẽ ít ai trên đời này lại yêu thích, bởi nó gắn liền với sự đau khổ. Song le, tôi yêu thích màu nhiệm ấy, bởi chính nhờ hiểu ra giá trị của màu nhiệm thập Giá Chúa Ki-tô, mà tôi đã từ một con người mù lòa khô khan lại trở nên một người thích làm thơ ca tụng Chúa. Nếu không có Thần Khí sự thật ở trong tôi, thúc giục tôi thì có lẽ giờ này tôi đang chìm nghỉm trong một góc tối của địa ngục trần gian. Nếu Người đã không chỉ ra cho tôi thấy giá trị sâu xa của màu nhiệm Thập Giá, thì có lẽ giờ đây tôi đang ngồi than khóc cho số phận của mình một cách vật vã, chứ đâu thể ngồi đây viết về Người! Cuộc sống của tôi hiện nay rất sảng khoái, đến nỗi nhiều người đã ngạc nhiên khi họ gặp tôi. Họ không nghĩ tôi là một người mù, lại là một người mù đầy bệnh tật. Niềm tin mà Thần Khí sự thật mang lại cho tôi khiến tôi cũng tự tin hơn trong cuộc sống, đến nỗi tôi ít khi nào nghĩ đến sự mù lòa của mình, có nhiều tháng tôi đã quên hẳn nó, bạn ạ!
Lạy Chúa Giê-su! Lời Chúa hôm nay nhắc nhở cho con nhớ rằng, nhờ có Thần Khí của Chúa, con mới có sự sống và mới nhận ra sự hiện diện của Chúa trong đời mình. Xin cho con luôn biết kín múc lấy những ơn ích từ mạch suối linh thiêng của Người. Xin Chúa thương ban thần Khí Chúa đến cho mỗi người chúng con một cách dồi dào, để chúng con có thể nhận ra và sống đúng theo thánh ý của Cha trên trời, Chúa nhé!
Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014
"NGƯỜI THẬT, VIỆC THẬT"
“Có một bà tên là Ly-đi-a, quê ở Thy—ati-ra, chuyên buôn bán vải điều. Bà là người tôn thờ Thiên Chúa; bà nghe, và Thiên Chúa mở lòng cho bà để bà chú ý tới những lời ông Phao-lô nói.”
(CV: 16,14)
Sách Công Vụ Tông-đồ hôm nay thuật lại chuyện một người phụ nữ đã được Thiên Chúa mở lòng mở trí cho, để mà biết chăm chú nghe lời rao giảng của thánh Phao-lô tông-đồ, là một câu chuyện hay đối với tôi. Vì tôi tin rằng, Thiên Chúa cũng đang thực hiện cho tôi những điều như thế. Người phụ nữ trong câu chuyện này có tên tuổi nghề nghiệp hẳn hoi, bà chính là một mẫu “người thật, việc thật”. Và chỉ vài nét sơ qua cũng đủ cho thấy bà là người thành công trong buôn bán, bà đâu phải là một phụ nữ rảnh rang không biết làm gì mới đi nghe mấy “ổng” nói...Tại sao tôi phải nói về bà Ly-đi-a với những vấn đề như thế? Bởi vì, có một hai người đã tỏ ý nghi ngờ, khi nghe tôi nói mình được ơn Chúa soi sáng và thúc đẩy cho tôi, để tôi chăm chú vào việc đọc Thánh Kinh và viết những dòng suy niệm. Họ cho rằng tôi rảnh rỗi không biết làm gì, nên đành làm những việc ấy cũng là phải thôi... đại khái, ý của họ là vậy. Nhưng tôi xin khẳng định một lần nữa với bạn rằng, mọi biến cố trong đời tôi đã chỉ ra cho thấy Chúa đã dắt tôi đi qua thung lũng tối, và bây giờ đã đưa tôi ra vùng ánh sáng của đồng cỏ xanh tươi, và cho tôi ngồi thảnh thơi bên dòng suối mát... Tất cả như thể Chúa đã dọn sẵn cho tôi mâm cỗ đầy, và còn cho tôi nhấp những ngụm “cà-phê trắng” ngọt ngào của dòng sữa yêu thương... Người cho tôi cảm hứng để tôi viết về Người. Mỗi khi tôi ngồi vào computer với ý định suy nghĩ và viết gì, tôi đều hướng lòng về Chúa với một câu thần chú ngắn gọn: “Xin cho con chỉ viết những gì Chúa muốn!” Bởi đó, tôi tin rằng những gì tôi viết ra đều là do Chúa linh hứng cho tôi, không chỉ là ý riêng của tôi mà thôi đâu, bạn ạ!
Lạy Chúa! Xưa Chúa đã mở lòng mở trí bà Ly-đi-a, để bà biết lắng nghe lời giảng dạy của thánh Phao-lô tông-đồ. Xin cho chúng con, đặc biệt mọi người trong gia đình con biết dành thời gian để lắng nghe Lời
Chúa, lắng nghe lời giảng dạy của các vị linh mục, để chúng con được bước đi trong ánh sáng của Chúa Ki-tô Phục sinh. Chúa là Đấng hiển trị đến muôn thuở muôn đời. A-men
(CV: 16,14)
Sách Công Vụ Tông-đồ hôm nay thuật lại chuyện một người phụ nữ đã được Thiên Chúa mở lòng mở trí cho, để mà biết chăm chú nghe lời rao giảng của thánh Phao-lô tông-đồ, là một câu chuyện hay đối với tôi. Vì tôi tin rằng, Thiên Chúa cũng đang thực hiện cho tôi những điều như thế. Người phụ nữ trong câu chuyện này có tên tuổi nghề nghiệp hẳn hoi, bà chính là một mẫu “người thật, việc thật”. Và chỉ vài nét sơ qua cũng đủ cho thấy bà là người thành công trong buôn bán, bà đâu phải là một phụ nữ rảnh rang không biết làm gì mới đi nghe mấy “ổng” nói...Tại sao tôi phải nói về bà Ly-đi-a với những vấn đề như thế? Bởi vì, có một hai người đã tỏ ý nghi ngờ, khi nghe tôi nói mình được ơn Chúa soi sáng và thúc đẩy cho tôi, để tôi chăm chú vào việc đọc Thánh Kinh và viết những dòng suy niệm. Họ cho rằng tôi rảnh rỗi không biết làm gì, nên đành làm những việc ấy cũng là phải thôi... đại khái, ý của họ là vậy. Nhưng tôi xin khẳng định một lần nữa với bạn rằng, mọi biến cố trong đời tôi đã chỉ ra cho thấy Chúa đã dắt tôi đi qua thung lũng tối, và bây giờ đã đưa tôi ra vùng ánh sáng của đồng cỏ xanh tươi, và cho tôi ngồi thảnh thơi bên dòng suối mát... Tất cả như thể Chúa đã dọn sẵn cho tôi mâm cỗ đầy, và còn cho tôi nhấp những ngụm “cà-phê trắng” ngọt ngào của dòng sữa yêu thương... Người cho tôi cảm hứng để tôi viết về Người. Mỗi khi tôi ngồi vào computer với ý định suy nghĩ và viết gì, tôi đều hướng lòng về Chúa với một câu thần chú ngắn gọn: “Xin cho con chỉ viết những gì Chúa muốn!” Bởi đó, tôi tin rằng những gì tôi viết ra đều là do Chúa linh hứng cho tôi, không chỉ là ý riêng của tôi mà thôi đâu, bạn ạ!
Lạy Chúa! Xưa Chúa đã mở lòng mở trí bà Ly-đi-a, để bà biết lắng nghe lời giảng dạy của thánh Phao-lô tông-đồ. Xin cho chúng con, đặc biệt mọi người trong gia đình con biết dành thời gian để lắng nghe Lời
Chúa, lắng nghe lời giảng dạy của các vị linh mục, để chúng con được bước đi trong ánh sáng của Chúa Ki-tô Phục sinh. Chúa là Đấng hiển trị đến muôn thuở muôn đời. A-men
Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014
CÁNH HOA TIÊU ĐỜI TÔI
“Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy."
(Ga: 14, 21)
Chúa đã tỏ mình ra cho con, để con biết con luôn có Chúa ở cùng
Chúa đã tỏ mình ra cho con, bởi Chúa yêu mến con với cả tấm lòng bao dung độ lượng
Và con biết, Chúa Cha cũng đã tỏ mình ra cho con qua những biến cố đời con sóng gió!
Nhưng, Chúa ơi! Con thấy mình bất xứng!
Con tự hỏi lòng mình, rằng:
Tôi đã thực lòng yêu mến Ngài chưa??
Tôi có quyết tâm giữ những điều răng Ngài truyền dạy,
hay tôi đã lạm dụng lòng yêu mến của Ngài?
Chúa ơi! Hôm nay, ngày mai và mãi mãi
Xin cho con yêu mến Chúa hết lòng
Như Chúa đã yêu con từ muôn thuở!
Và xin cho con luôn ở mãi trong tình yêu mến ấy
Mỗi ngày đời con đây, xin tuân giữ luật Ngài truyền!
Thuyền đời con như cánh buồm căng gió
Gió đưa con đi, đi trên sóng nhấp nhô
Điều răng Chúa, chỉ mấy từ cô đọng
“Mến Chúa, yêu người” như một cánh hoa tiêu
Con phiêu du theo gió khắp biển đời
Phía chân trời là màu xanh hy vọng!!!
(Ga: 14, 21)
Chúa đã tỏ mình ra cho con, để con biết con luôn có Chúa ở cùng
Chúa đã tỏ mình ra cho con, bởi Chúa yêu mến con với cả tấm lòng bao dung độ lượng
Và con biết, Chúa Cha cũng đã tỏ mình ra cho con qua những biến cố đời con sóng gió!
Nhưng, Chúa ơi! Con thấy mình bất xứng!
Con tự hỏi lòng mình, rằng:
Tôi đã thực lòng yêu mến Ngài chưa??
Tôi có quyết tâm giữ những điều răng Ngài truyền dạy,
hay tôi đã lạm dụng lòng yêu mến của Ngài?
Chúa ơi! Hôm nay, ngày mai và mãi mãi
Xin cho con yêu mến Chúa hết lòng
Như Chúa đã yêu con từ muôn thuở!
Và xin cho con luôn ở mãi trong tình yêu mến ấy
Mỗi ngày đời con đây, xin tuân giữ luật Ngài truyền!
Thuyền đời con như cánh buồm căng gió
Gió đưa con đi, đi trên sóng nhấp nhô
Điều răng Chúa, chỉ mấy từ cô đọng
“Mến Chúa, yêu người” như một cánh hoa tiêu
Con phiêu du theo gió khắp biển đời
Phía chân trời là màu xanh hy vọng!!!
Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014
THẦY LÀ NGUỒN CẬY TRÔNG TUYỆT ĐỐI
“Hãy nhớ lời Thầy đã nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em.”
(Ga: 15, 20)
Ngày ấy
Họ đã bắt bớ Thầy, dẫn đi như một kẻ tội phạm
Họ đã tra xét Thầy, hỏi cung như thể Thầy là một kẻ bất lương
Họ đã chẳng nương tay, đánh đập Thầy như thể Thầy là một tên cầm đầu phiến loạn
Họ đã sỉ vả nhục mạ, đã phỉ nhổ vào mặt Thầy, như thể Thầy là một tên khốn nạn bần cùng...
Họ đã dùng mão gai đội cho Thầy một vương miện,
họ có ngờ đâu đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh bởi Thầy chính là vua!
Một vị vua thống trị trên muôn ngàn sự đau khổ!
Một vị vua chịu chết treo trần truồng trên thập giá!
Con là tôi tá của Thầy
Bước theo Thầy là bước đi trên vạn nẻo đường chông gai...
Thầy sai con đi, con đâu dám chối từ!
Ơi, Thầy ơi! Lời Thầy như trăn trối
Lối con đi, con biết, đã có Thầy
Thầy sẽ ở bên con, sẽ cùng con tiến bước:
những khi oan trái bủa vây,
những khi lội lầy trong u tối,
những khi đơn côi bị tứ phía hiểu lầm
những khi bị cầm tù trong khốn khó
những khi có kẻ muốn hại con...
có thể ngày mai, con sẽ bị bắt bớ, bị dẫn đi như một kẻ tội đồ...
con biết, con đã có Thầy là sức mạnh, là thuẫn đỡ khiên che, là nguồn cậy trông tuyệt đối!
ới, Thầy ơi! xin cho con luôn vững bước theo Thầy.
(Ga: 15, 20)
Ngày ấy
Họ đã bắt bớ Thầy, dẫn đi như một kẻ tội phạm
Họ đã tra xét Thầy, hỏi cung như thể Thầy là một kẻ bất lương
Họ đã chẳng nương tay, đánh đập Thầy như thể Thầy là một tên cầm đầu phiến loạn
Họ đã sỉ vả nhục mạ, đã phỉ nhổ vào mặt Thầy, như thể Thầy là một tên khốn nạn bần cùng...
Họ đã dùng mão gai đội cho Thầy một vương miện,
họ có ngờ đâu đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh bởi Thầy chính là vua!
Một vị vua thống trị trên muôn ngàn sự đau khổ!
Một vị vua chịu chết treo trần truồng trên thập giá!
Con là tôi tá của Thầy
Bước theo Thầy là bước đi trên vạn nẻo đường chông gai...
Thầy sai con đi, con đâu dám chối từ!
Ơi, Thầy ơi! Lời Thầy như trăn trối
Lối con đi, con biết, đã có Thầy
Thầy sẽ ở bên con, sẽ cùng con tiến bước:
những khi oan trái bủa vây,
những khi lội lầy trong u tối,
những khi đơn côi bị tứ phía hiểu lầm
những khi bị cầm tù trong khốn khó
những khi có kẻ muốn hại con...
có thể ngày mai, con sẽ bị bắt bớ, bị dẫn đi như một kẻ tội đồ...
con biết, con đã có Thầy là sức mạnh, là thuẫn đỡ khiên che, là nguồn cậy trông tuyệt đối!
ới, Thầy ơi! xin cho con luôn vững bước theo Thầy.
Thứ Sáu, 23 tháng 5, 2014
TÌNH THƯƠNG: MỘT QUÀ TẶNG TUYỆT VỜI ĐẾN TỪ THIÊN CHÚA
“Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.”
(Ga: 15, 17)
Tôi nhớ một chuyện xảy ra cách đây hơn mười năm, câu chuyện ấy đã khiến cho tôi dần trở nên dễ thông cảm với anh chị em khuyết tật, đó là câu chuyện về tình thương của những người đồng cảnh ngộ dành cho nhau. Thời gian ấy, tôi vẫn còn ngù ngờ trong cái thế giới của người mù lắm, mỗi khi đi đâu ra khỏi nhà tôi thường là đi chung với tập thể. Tết Trung thu năm ấy, tôi cùng với các em ở Mái ấm Thiên ân đi lãnh quà của một tổ chức từ thiện nọ. Sau một số tiết mục văn nghệ, người ta phát cho chúng tôi mỗi người một hộp bánh và một chai nước suối. Trên đường ra xe để trở về mái ấm, một em gái 15 tuổi tên là Thu cứ khăng khăng giành lấy phần quà trên tay tôi. Thu nói: “Cô thủy đưa con cầm cho, kẻo cô đau cổ!”. tôi cười: “Trời ơi, có cái bánh trung thu mà cô không cầm nổi, thì cô phải nhịn ăn chứ ai mà cho ăn nữa!”. Nói thì nói vậy, nhưng trong lòng tôi rất cảm động, vì tôi hiểu tình thương mà Thu dành cho tôi. Cô bé biết tôi bị chứng thoái hóa đốt sống cổ, cầm vật gì trên 1kg là bị đau, nếu phải cầm vật đó lâu thì tôi sẽ bị ói...
Thu đã bị mù khi vừa được sinh ra, theo kết luận của các bác sĩ thì em bị mù do ảnh hưởng của thuốc trừ sâu. Có lẽ khi mang thai em, mẹ em đã đi xịt thuốc trừ sâu cho ruộng lúa mà không có biện pháp phòng vệ cho cơ thể. Một cô bé không có một khái niệm gì về ánh sáng; song le, cô bé có một tình thương thật sáng chói. Một lần tâm sự với tôi, cô nói: Con mù từ nhỏ đã quen rồi, thương cho cô Thủy, lớn mà bị mù như thế này thật khổ! Chắc là cô khó chịu lắm nhỉ?” Nghe những lời nói của cô bé, tôi cảm thấy quặn thắt trong lòng, vì thương cho Thu. Dù sao tôi đã có một thời gian sống như người bình thường, và tôi cũng còn được biết mặt mũi cha mẹ anh chị em mình, còn cô bé chẳng hề biết được những điều đó. Vậy mà cô bé lại có một sự cảm thông sâu xa và đem lòng thương yêu đối với người còn may mắn hơn cô là tôi đây. Tôi cảm thấy tấm lòng của Thu thật là quảng đại. Tôi thì thương cho những người mù bẩm sinh, vì rất nhiều thứ họ không thể nào tiếp cận được như ánh sáng, màu sắc... còn đa số những người mù bẩm sinh lại thương cho những người mù ngang như tôi, bởi họ cho rằng đang sống bình thường mà bị tối thì rất khổ. Tình thương yêu giữa đa phần những người đồng cảnh ngộ là như thế đó, có lẽ đó là một trong những nét đẹp tuyệt vời của tình yêu mà Chúa đã ban cho loài người chúng ta, phải không các bạn?
Lạy Chúa Giê-su! Lời Chúa truyền dạy chúng con: “Hãy yêu thương nhau”, đã nhắc nhở con về tình thương bao dung của Chúa, và cũng nhắc nhở con về bổn phận mình phải sống xứng đáng với tình thương của Chúa. Chúa đã ban cho con biết bao tình yêu thương qua những người thân bạn hữu. Chúa đã ban cho con những giây phút được trải qua những cảm xúc tuyệt đẹp như con đã từng có với bé Thu, thì xin Chúa cũng ban cho tất cả những người bình thường có cái nhìn yêu thương đối xứng với tình yêu thương của bé Thu, để nhờ tình yêu đó, những anh chị em khuyết tật còn ngồi trong bóng tối của mặc cảm có thể bước ra vùng ánh sáng.
Xin cho con luôn biết yêu thương mọi người, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù cho bất cứ đó là người yêu con hay ghét con, để con có thể xứng đáng với tình thương của Chúa, Chúa nhé!
(Ga: 15, 17)
Tôi nhớ một chuyện xảy ra cách đây hơn mười năm, câu chuyện ấy đã khiến cho tôi dần trở nên dễ thông cảm với anh chị em khuyết tật, đó là câu chuyện về tình thương của những người đồng cảnh ngộ dành cho nhau. Thời gian ấy, tôi vẫn còn ngù ngờ trong cái thế giới của người mù lắm, mỗi khi đi đâu ra khỏi nhà tôi thường là đi chung với tập thể. Tết Trung thu năm ấy, tôi cùng với các em ở Mái ấm Thiên ân đi lãnh quà của một tổ chức từ thiện nọ. Sau một số tiết mục văn nghệ, người ta phát cho chúng tôi mỗi người một hộp bánh và một chai nước suối. Trên đường ra xe để trở về mái ấm, một em gái 15 tuổi tên là Thu cứ khăng khăng giành lấy phần quà trên tay tôi. Thu nói: “Cô thủy đưa con cầm cho, kẻo cô đau cổ!”. tôi cười: “Trời ơi, có cái bánh trung thu mà cô không cầm nổi, thì cô phải nhịn ăn chứ ai mà cho ăn nữa!”. Nói thì nói vậy, nhưng trong lòng tôi rất cảm động, vì tôi hiểu tình thương mà Thu dành cho tôi. Cô bé biết tôi bị chứng thoái hóa đốt sống cổ, cầm vật gì trên 1kg là bị đau, nếu phải cầm vật đó lâu thì tôi sẽ bị ói...
Thu đã bị mù khi vừa được sinh ra, theo kết luận của các bác sĩ thì em bị mù do ảnh hưởng của thuốc trừ sâu. Có lẽ khi mang thai em, mẹ em đã đi xịt thuốc trừ sâu cho ruộng lúa mà không có biện pháp phòng vệ cho cơ thể. Một cô bé không có một khái niệm gì về ánh sáng; song le, cô bé có một tình thương thật sáng chói. Một lần tâm sự với tôi, cô nói: Con mù từ nhỏ đã quen rồi, thương cho cô Thủy, lớn mà bị mù như thế này thật khổ! Chắc là cô khó chịu lắm nhỉ?” Nghe những lời nói của cô bé, tôi cảm thấy quặn thắt trong lòng, vì thương cho Thu. Dù sao tôi đã có một thời gian sống như người bình thường, và tôi cũng còn được biết mặt mũi cha mẹ anh chị em mình, còn cô bé chẳng hề biết được những điều đó. Vậy mà cô bé lại có một sự cảm thông sâu xa và đem lòng thương yêu đối với người còn may mắn hơn cô là tôi đây. Tôi cảm thấy tấm lòng của Thu thật là quảng đại. Tôi thì thương cho những người mù bẩm sinh, vì rất nhiều thứ họ không thể nào tiếp cận được như ánh sáng, màu sắc... còn đa số những người mù bẩm sinh lại thương cho những người mù ngang như tôi, bởi họ cho rằng đang sống bình thường mà bị tối thì rất khổ. Tình thương yêu giữa đa phần những người đồng cảnh ngộ là như thế đó, có lẽ đó là một trong những nét đẹp tuyệt vời của tình yêu mà Chúa đã ban cho loài người chúng ta, phải không các bạn?
Lạy Chúa Giê-su! Lời Chúa truyền dạy chúng con: “Hãy yêu thương nhau”, đã nhắc nhở con về tình thương bao dung của Chúa, và cũng nhắc nhở con về bổn phận mình phải sống xứng đáng với tình thương của Chúa. Chúa đã ban cho con biết bao tình yêu thương qua những người thân bạn hữu. Chúa đã ban cho con những giây phút được trải qua những cảm xúc tuyệt đẹp như con đã từng có với bé Thu, thì xin Chúa cũng ban cho tất cả những người bình thường có cái nhìn yêu thương đối xứng với tình yêu thương của bé Thu, để nhờ tình yêu đó, những anh chị em khuyết tật còn ngồi trong bóng tối của mặc cảm có thể bước ra vùng ánh sáng.
Xin cho con luôn biết yêu thương mọi người, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù cho bất cứ đó là người yêu con hay ghét con, để con có thể xứng đáng với tình thương của Chúa, Chúa nhé!
Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014
Ở LẠI TRONG TÌNH THƯƠNG CỦA THẦY
“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.”(Ga: 15, 9)
Con muốn được ở lại trong tình thương của Thầy
Nơi tràn đầy niềm hạnh phúc thiêng liêng
Nơi vỗ về ủi yên con những khi con đau khổ
Nơi con có thể thổ lộ tất cả những buồn vui cay đắng...
Thầy là tia nắng ấm cho con mỗi khi đời lạnh giá
Con muốn được ở lại trong tình thương da diết của Thầy
Như chiếc lá xanh căng mình ra đón nắng.
Nhưng, Thầy ơi, có những ngày trời mây xám mưa giăng
Con thấy mình bị bão giông cuốn phăng theo gió xoáy!...
Thầy ở đâu khi ấy, hỡi Thầy ơi!
Lời hôm nay, Thầy bày tỏ với con,
một mối tình thiện hảo đến từ Cha chí ái:
“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.”
Lời Thầy nói khiến lòng con dậy lên một niềm tin yêu hy vọng
Trọn đời con sẽ được Chúa Cha thương đoái, bởi tình Cha hằng vẫn yêu con qua Người Con chí ái của Ngài!
Con muốn được ở lại trong tình thương của Thầy
Nơi tràn đầy niềm hạnh phúc thiêng liêng
Nơi vỗ về ủi yên con những khi con đau khổ
Nơi con có thể thổ lộ tất cả những buồn vui cay đắng...
Thầy là tia nắng ấm cho con mỗi khi đời lạnh giá
Con muốn được ở lại trong tình thương da diết của Thầy
Như chiếc lá xanh căng mình ra đón nắng.
Nhưng, Thầy ơi, có những ngày trời mây xám mưa giăng
Con thấy mình bị bão giông cuốn phăng theo gió xoáy!...
Thầy ở đâu khi ấy, hỡi Thầy ơi!
Lời hôm nay, Thầy bày tỏ với con,
một mối tình thiện hảo đến từ Cha chí ái:
“Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy.”
Lời Thầy nói khiến lòng con dậy lên một niềm tin yêu hy vọng
Trọn đời con sẽ được Chúa Cha thương đoái, bởi tình Cha hằng vẫn yêu con qua Người Con chí ái của Ngài!
Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014
CÀNH NHO & "CÂY NHO THẬT"
“Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào dính liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn.”
(GA: 15, 1-2)
Tại sao Chúa Giê-su phải nói: “Thầy là cây nho thật”? Chẳng lẽ lại có cây nho giả nữa sao? Ồ, bây giờ đời nhiễu nhương trăm nẻo. Tôi thấy những người buôn bán hỏi nhau một cách tỉnh bơ: “Có áo đểu không? Hoặc là: “Lấy cho 2 cái áo xịn, với lại 10 cái áo dổm nhé!”... Không phải là người đi buôn chuyên nghiệp, nhưng chắc hẳn ai nghe cũng hiểu nghĩa của các từ ngữ: “xịn”, “dổm”... áo “đểu” là lối nói của dân buôn miền Bắc, còn dân buôn miền Nam thì gọi là: áo “dổm”... Những từ ngữ này chỉ mới xuốt hiện khoảng 3, 4 thập niên gần đây, vậy mà nó đã trở thành ngôn ngữ rất thông dụng. Nếu như thời Chúa Giê-su đã có loại từ ngữ này, thì chắc hẳn Người đã nói: “Thầy là cây nho xịn”, để đảm bảo với các môn đệ của Người rằng cây nho của Cha mình trồng là một cây nho thực thụ... Bây giờ người ta trồng cây không phải cực khổ kéo dài ngày như trước kia, một người bà con của tôi làm nghề nông kể rằng: người ta trồng dưa leo, khi trái dưa leo mới đậu quả bằng ngón tay trỏ, người ta hái xuống, rồi nhúng vào một loại thuốc gì đó, trái dưa leo nở ra to đùng, có thể đem ra chợ bán một cách khỏe re. Người bà con của tôi không dám làm theo người ta chỉ vẽ, dì ấy còm cõi trồng rau sạch thì phải cực khổ bắt sâu, vun tưới cho rau, nhiều ngày lao công vất vả mới được sản phẩm rau đem bán... Tóm lại là có cây thực, cây giả, bạn ạ!
Ngày ấy, Chúa Giê-su đã khẳng định: “Cha Thầy là người trồng nho”, Người Cha đã sinh ra con, đã trồng lên một cây nho, tất nhiên ông phải hết sức chăm chút cho cây nho của mình! Người Cha đâu muốn những trái nho trong vườn của mình là những trái nho “dổm”! Vì thế, ông phải ra sức vun xới cắt tỉa để cho nó sinh hoa trái một cách tự nhiên. Cây nho chịu sự cắt tỉa của người trồng nho, thì cây nho phải chịu những sự đau đớn. Người Cha thương con, nhưng vẫn phải cắt tỉa để cho nhành của nó được sinh hoa kết quả một cách dồi dào.
“Cành nào dính liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn.” Người Con đã tự hiến mình, như gốc nho trao ban nhựa sống cho cành nho thế nào, thì Người cũng đã trao ban sự sống của Người cho nhân loại chúng ta thế ấy, hầu mang lại sự sống dồi dào cho chúng ta. Cành nho nào không liên quan mật thiết với cây nho, tất nhiên không thể hút được nhựa sống từ đó, và dần sẽ trở nên khô héo, chẳng thể sinh hoa kết quả. Vậy, tôi đã có quan hệ như thế nào với Chúa Giê-su? tôi đã là một cành nho dính liền một cách mật thiết với “Cây nho thật” chưa? Cành nho tôi đã sinh hoa kết quả làm vui lòng người trồng nho hay chưa?
Người Cha là Thiên Chúa đầy lòng nhân hậu, nhưng Ngài cũng là một Thiên Chúa chí công, Ngài chỉ muốn cây nho sinh những trái nho thật. Ngài không chấp nhận những trái nho “dổm”, kiểu như người ta có thể nhúng vào một loại chất hóa học mà bỏ qua giai đoạn cắt tỉa đớn đau.
Lạy Chúa Giê-su! Xin cho con luôn giữ được mối quan hệ mật thiết với Chúa, để con có thể hút được nhựa sống từ “Cây nho thật”, mà trở nên một cành nho xinh tươi trong vườn nho của Chúa Cha. Xin cho con luôn biết cam tâm chịu đựng những trái ý ở đời, như chịu đựng sự cắt tỉa của người trồng nho, để cành nho con có thể sinh những hoa trái tốt đẹp làm rạng danh Chúa Cha của chúng ta, Chúa nhé!
(GA: 15, 1-2)
Tại sao Chúa Giê-su phải nói: “Thầy là cây nho thật”? Chẳng lẽ lại có cây nho giả nữa sao? Ồ, bây giờ đời nhiễu nhương trăm nẻo. Tôi thấy những người buôn bán hỏi nhau một cách tỉnh bơ: “Có áo đểu không? Hoặc là: “Lấy cho 2 cái áo xịn, với lại 10 cái áo dổm nhé!”... Không phải là người đi buôn chuyên nghiệp, nhưng chắc hẳn ai nghe cũng hiểu nghĩa của các từ ngữ: “xịn”, “dổm”... áo “đểu” là lối nói của dân buôn miền Bắc, còn dân buôn miền Nam thì gọi là: áo “dổm”... Những từ ngữ này chỉ mới xuốt hiện khoảng 3, 4 thập niên gần đây, vậy mà nó đã trở thành ngôn ngữ rất thông dụng. Nếu như thời Chúa Giê-su đã có loại từ ngữ này, thì chắc hẳn Người đã nói: “Thầy là cây nho xịn”, để đảm bảo với các môn đệ của Người rằng cây nho của Cha mình trồng là một cây nho thực thụ... Bây giờ người ta trồng cây không phải cực khổ kéo dài ngày như trước kia, một người bà con của tôi làm nghề nông kể rằng: người ta trồng dưa leo, khi trái dưa leo mới đậu quả bằng ngón tay trỏ, người ta hái xuống, rồi nhúng vào một loại thuốc gì đó, trái dưa leo nở ra to đùng, có thể đem ra chợ bán một cách khỏe re. Người bà con của tôi không dám làm theo người ta chỉ vẽ, dì ấy còm cõi trồng rau sạch thì phải cực khổ bắt sâu, vun tưới cho rau, nhiều ngày lao công vất vả mới được sản phẩm rau đem bán... Tóm lại là có cây thực, cây giả, bạn ạ!
Ngày ấy, Chúa Giê-su đã khẳng định: “Cha Thầy là người trồng nho”, Người Cha đã sinh ra con, đã trồng lên một cây nho, tất nhiên ông phải hết sức chăm chút cho cây nho của mình! Người Cha đâu muốn những trái nho trong vườn của mình là những trái nho “dổm”! Vì thế, ông phải ra sức vun xới cắt tỉa để cho nó sinh hoa trái một cách tự nhiên. Cây nho chịu sự cắt tỉa của người trồng nho, thì cây nho phải chịu những sự đau đớn. Người Cha thương con, nhưng vẫn phải cắt tỉa để cho nhành của nó được sinh hoa kết quả một cách dồi dào.
“Cành nào dính liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn.” Người Con đã tự hiến mình, như gốc nho trao ban nhựa sống cho cành nho thế nào, thì Người cũng đã trao ban sự sống của Người cho nhân loại chúng ta thế ấy, hầu mang lại sự sống dồi dào cho chúng ta. Cành nho nào không liên quan mật thiết với cây nho, tất nhiên không thể hút được nhựa sống từ đó, và dần sẽ trở nên khô héo, chẳng thể sinh hoa kết quả. Vậy, tôi đã có quan hệ như thế nào với Chúa Giê-su? tôi đã là một cành nho dính liền một cách mật thiết với “Cây nho thật” chưa? Cành nho tôi đã sinh hoa kết quả làm vui lòng người trồng nho hay chưa?
Người Cha là Thiên Chúa đầy lòng nhân hậu, nhưng Ngài cũng là một Thiên Chúa chí công, Ngài chỉ muốn cây nho sinh những trái nho thật. Ngài không chấp nhận những trái nho “dổm”, kiểu như người ta có thể nhúng vào một loại chất hóa học mà bỏ qua giai đoạn cắt tỉa đớn đau.
Lạy Chúa Giê-su! Xin cho con luôn giữ được mối quan hệ mật thiết với Chúa, để con có thể hút được nhựa sống từ “Cây nho thật”, mà trở nên một cành nho xinh tươi trong vườn nho của Chúa Cha. Xin cho con luôn biết cam tâm chịu đựng những trái ý ở đời, như chịu đựng sự cắt tỉa của người trồng nho, để cành nho con có thể sinh những hoa trái tốt đẹp làm rạng danh Chúa Cha của chúng ta, Chúa nhé!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)