Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

NHƯ CHIM BẰNG TUNG CÁNH

“Người ban sức mạnh cho ai mệt mỏi,
kẻ kiệt lực, Người làm cho nên cường tráng.
Thanh niên thì mệt mỏi, nhọc nhằn,
trai tráng cũng ngả nghiêng, lảo đảo.
Nhưng những người cậy trông ĐỨC CHÚA
thì được thêm sức mạnh.
Như thể chim bằng, họ tung cánh.
Họ chạy hoài mà không mỏi mệt,
và đi mãi mà chẳng chùn chân.”
(Trích sách I-sai-a: 40, 29-31)

Con bây giờ như chim bằng tung cánh
Chúa Thánh Thần ngự trị giữa tim con
Ban cho con sức mạnh buổi chiều tà
Và thêm sức khi chùn chân mỏi gối
Lối con đi luôn có Chúa phù trì
Vì con vẫn hằng ngày trông cậy Chúa!

Ơi, Chúa ơi! Có những chiều thong thả
Con ngả hồn theo mây gió bình yên
Chừng nghe rõ tiếng thiên nhiên réo gọi
Tiếng Chúa Trời qua hơi thở của tình yêu...

Ơi, Chúa ơi! Con nhiều phen kiệt lực
Rồi sực tỉnh, thấy Chúa ẵm trên tay
Con mới hay, con là kẻ khốn cùng
Và mới hiểu, Chúa muôn trùng mạnh mẽ.
Chúa vì thương ban lẽ sống cho con!

Muôn lạy Chúa! Mối tình son thăm thẳm
Con lấy gì mà đền đáp cho cân
Chỉ xin dâng lên Chúa tấm lòng thành
Và tặng Chúa những vần thơ vụng dại
Xin Ngài thương ở bên con mãi mãi!!!...!

Vâng, lạy Chúa! Con đã nhiều khi mệt mỏi chán chường, càng cậy trông vào sức lực của mình con càng cảm thấy mình bị đè bẹp dưới những khó khăn chồng chất! Chỉ khi con biết hoàn toàn cậy trông vào Chúa, khi đó con mới cảm thấy tâm hồn mình bình an và thanh thản. Vì vậy, đọc những vần thơ của ngôn sứ I-sai-a hôm nay con cảm thấy mình thật sự “như chim bằng tung cánh”, Chúa ạ!
Xin cho những ai đang khó nhọc và mệt mỏi vì những gánh nặng của cuộc sống biết chạy đến với Chúa, để được Thánh Thần Chúa đỡ nâng, như Ngài đã từng đỡ nâng con vậy, Chúa nhé!

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

TÌM VỀ VỚI CHÚA

“Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một trong những kẻ bé mọn này phải hư mất.”
(Mát-thêu: 18, 14)

Tôi chính là một trong những kẻ bé mọn của Chúa, Chúa không muốn tôi phải hư mất. Người luôn ở bên cạnh tôi, dõi theo tôi; nhưng, Chúa cũng lại rất tôn trọng sự tự do của tôi, vì Chúa không muốn cưỡng ép tôi, cho nên đã lắm lúc tôi cứ đi chệch ra khỏi đường lối của Người. Tôi đã nhiều lần vấp ngã, thậm chí, tôi đã buông thả cho mình trượt theo con dốc dài của đường đời. Gặp đau khổ, thất bại và đắng cay không bám víu vào đâu được, tôi lại tìm về với Chúa. Sau mỗi lần như vậy, tôi cảm nhận được tình yêu thương tha thứ của Chúa thật là thâm sâu. Đôi khi tôi mang tâm trạng chán nản vì nghĩ rằng mình đã quá lạm dụng tình thương của Chúa, nhưng không, vẫn có điều gì đó rất ngọt ngào len vào trái tim tôi khi tôi tâm sự với Người về sự yếu đuối mỏng giòn của mình.
Đọc đoạn Tin Mừng hôm nay, tôi càng tin chắc vào lời nói của Chúa: “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một trong những kẻ bé mọn này phải hư mất.” Tôi vững tin rằng, vì vậy mà Chúa Cha đã sai Người Con xuống thế để dạy bảo con cái của Ngài. Đã có lúc tôi nản chí vì quá cậy dựa vào sức riêng mình, bây giờ tôi đã biết cầu nguyện và cậy trông vào sự nâng đỡ của Chúa.

Lạy Chúa, xin giữ gìn con khỏi hư mất theo như lời Chúa đã phán! Xin cho tất cả chúng con biết cậy dựa vào Chúa để chống trả với mưu chước của ma quỷ. Xin hãy ở với chúng con trong những giờ phút đen tối của lòng mình. A-men!
Chúa ơi, Chúa hãy đọc bài thơ dưới đây của con, để hiểu rằng con cần đến sự nâng đỡ của Chúa biết bao:
MỘT PHÚT TRONG NGÀY

Mặt trời càng lên cao
Đất càng sâu chân bước
Phút này con ước Chúa
Chúa gần con hơn đi
Hồn con đang lạnh lắm
Dẫu mặt trời trên cao
Phút này con lao đao
Bao nhiêu điều u uẩn
Nắng rải tung giữa đời
Bão từ đâu ập tới
Rối bời cả hồn con
Chúa ơi phút giây này
Đừng nỡ bỏ con đi!

04/05/08
Viết trong cơn sợ hãi

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

NGƯỜI THIẾU NỮ SI-ON

“Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người,
Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử
nhờ Đức Giê-su Ki-tô,
để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời,
ân sủng Người ban tặng cho ta
trong Thánh Tử yêu dấu.”
(Ê-phê-sô: 1, 5-6)

Thấp thoáng bóng Mẹ yêu
Trong những lời ngợi khen chúc tụng.
Có lời chúc tụng nào đẹp hơn lời ngợi khen của mẹ
Mẹ đã nhận ra trong cuộc đời mình, ân sủng Chúa đầy dư
Và như thế, Mẹ đã sống trọn đời thánh hiến bằng hai tiếng “Xin vâng!”
Bởi hai tiếng “Xin vâng”, Mẹ đã trở thành Mẹ của Con Thiên Chúa.
Và bởi cung lòng Mẹ chẳng một vết tì nhơ tội lỗi, đã trở nên nơi Con Chúa ngự vào!

Ôi! Ngọt ngào hương đức trinh nguyên
Ôi! Đẹp thay, dáng Mẹ dịu hiền
Đức Chúa đã tiền định,
Mẹ là thiếu nữ Si-on
Và Mẹ cũng đã sắt son dâng hiến trọn cho Ngài!

Đón Con Chúa vào cung lòng trinh trắng,
Mẹ như nắng ban mai,
Rạng rỡ cả bầu trời!
Mẹ! Mẹ ơi! Mẹ ơi!!
Mẹ đã bao lần cất cao lời ngợi khen Thiên Chúa,
Nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Mẹ được đầy tràn ân sủng
Và con được trở nên như nghĩa tử của Cha Ngài.

Xin cho con chút nắng ban mai
Xin cho con luôn đẹp lòng Người
Để lưỡi con biết nói những lời ngợi khen Thiên Chúa như Mẹ xưa, Mẹ nhé!

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

TRỜI MỚI ĐẤT MỚI

“Nhưng, theo lời Thiên Chúa hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất mới, nơi công lý ngự trị. Vì thế, anh em thân mến, trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an.”
(Phê-rô II: 3, 13-14)

Thiên Chúa đã hứa ban cho nhân loại một “trời mới đất mới”, nơi công lý của Ngài sẽ ngự trị và bình an của Ngài sẽ ở giữa chúng ta; trời mới đất mới ấy đến với nhân loại chúng ta đã hơn hai nghìn năm, kể từ khi Ngôi Hai xuống thế làm người. Vâng, “trời mới đất mới” đó chính là sự hiện diện của Đức Giê-su Ki-tô giữa lòng đời, “trời mới đất mới” đó chính là những gì Đức Giê-su Ki-tô đã bày tỏ cho con người qua những lời rao giảng của Người, và qua con đường thập giá mà Người đã đi. Tuy nhiên, bạn và tôi, chúng ta có cảm nhận được trời mới đất mới đó hay chưa, điều này còn phụ thuộc vào thái độ sống của mỗi người chúng ta nữa!
“Trong khi mong đợi ngày đó, anh em phải cố gắng sao cho Người thấy anh em tinh tuyền, không chi đáng trách và sống bình an.”, lời thánh Phê-rô Nhắc nhở tôi rằng, tôi phải sống sao cho xứng đáng để được hưởng những gì Thiên Chúa đã hứa ban, chứ không chỉ ngồi đó mà trông đợi một cách thụ động! Quả thật, chỉ khi tôi tích cực sống theo Lời Chúa dạy, tôi mới cảm nhận được sự hiện diện của Chúa và tìm được nguồn bình an đích thực cho tâm hồn. Chẳng hạn, thay vì ngồi một mình mà bức bối với những chuyện thị phi dính líu đến mình, tôi dâng cho Chúa những nỗi oan ức mà mình đang đa mang, sẵn sàng chấp nhận những gì mình thiệt thòi vì công lý và hòa bình, dù chỉ là những chuyện nhỏ nhặt thường ngày, những lúc ấy tôi cảm thấy tâm hồn rất bình an. Chung quanh tôi đất trời trở nên tươi vui, chứ không ảm đạm như khi lòng tôi chưa hiến dâng nỗi buồn bực cho Chúa. Hoặc, khi tôi biết chia sẻ tất cả những gì tôi có cho một người đang cần tôi giúp đỡ, tinh thần hay vật chất, thời gian hay niềm vui nỗi buồn, với một tâm tình yêu mến, những lúc ấy tôi cảm thấy trời mới đất mới như bừng lên trong tôi một cách hân hoan, bạn ạ!

Lạy Chúa! con biết mình vẫn còn rất nhiều điều đáng chê trách, song con luôn vững tin vào những lời Chúa hứa, Chúa sẽ ban cho con trời mới đất mới, nên con cảm thấy rất an lòng. Xin ban cho con một tinh thần sáng suốt và khôn ngoan, để con luôn biết sống sao cho được đẹp lòng Chúa mà dần trở nên tinh tuyền như lòng Chúa ước mong. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời A-men!

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

NGƯỜI PHỤ NỮ MÙ ĐÃ CHẠY ĐẾN VỚI CHÚA

“Phải, hỡi dân Xi-on đang ở Giê-ru-sa-lem,
ngươi sẽ không còn phải khóc nữa.
Khi ngươi kêu cứu, Người sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi ;
nghe tiếng ngươi kêu là Người đáp lại.
Chúa Thượng sẽ ban cho ngươi bánh ăn trong lúc ngặt nghèo
và nước uống trong cơn khốn quẫn.
Đấng dạy dỗ ngươi sẽ không còn lánh mặt,
và mắt ngươi sẽ thấy Đấng dạy dỗ ngươi.”
(I-sai-a: 30, 19-20)

Đọc đoạn trích trên đây của ngôn sứ I-sai-a tôi chợt nghĩ đến một người phụ nữ mù mà tôi quen biết. Những lời chị kể về cuộc đời của chị dường như ứng nghiệm những lời này của ngôn sứ I-sai-a vậy. Câu chuyện như dưới đây:

Ba má tui đều là người Việt sống ở Campuchia, gặp nhau rồi lấy nhau trên đất Campuchia. Năm tui lên 3 tuổi, tui và hai người anh bị đậu mùa. Hai người anh tui đã chết, còn tui thì sống sót nhưng bị mù luôn hai mắt. Ba rất thương chiều tui, còn má thì lại thương những đứa con sáng mắt. Năm tui 10 tuổi, ba tui chết, kể từ đó tui thường xuyên bị đánh đập chửi rủa. Má đưa tui và em gái sang ở với chị Hai cùng anh rể. Tui còn một anh trai nữa, nhưng đã về sống với chú ở Sài Gòn. Má đi phụ buôn bán với chị Hai, tui phải tự tập tành giặt giũ, nấu ăn và làm mọi công chuyện nhà. Chị Hai sanh năm một, một tháng ở cữ xong chị để lũ con cho tui trông, chị ra sạp bán vải. Một mình tui xoay sở với lũ cháu nhỏ, sữa sùng rồi cơm nước, giặt giũ đủ thứ mà làm không kịp thì má tui đánh đập không thương tiếc. Em gái đi học trường đầm về chẳng hề đụng móng tay việc gì, quần áo của nó được má khâu nhíp cho tươm tất. Chị Hai tui bán vải, nhưng chẳng bao giờ cho tui vải để may quần áo, quần áo rách tui phải tự nhíp lấy. Chị Hai nói: “Tao nuôi mày ăn, cho mày ở là phước lắm rồi còn đòi gì nữa!” Rách quá rồi, tui phải nhận trông thêm trẻ cho hàng xóm để kiếm tiền mua vải may quần áo. Hàng xóm cũng tin giao cho coi mấy đứa, kiếm được tiền tui phải chia cho má tui một nửa. . .
Tui chẳng được ra ngoài, đi đâu bao giờ nên cứ nghĩ rằng trên đời này có một mình tui bị mù. Nhiều khi tui tủi thân mình đã mù, mà chẳng được ai thương xót. Lạ một điều là gia đình tui theo đạo gốc, mọi người đi lễ rất siêng năng nhưng không ai dắt tui đi nhà thờ gì hết.
Năm lên 18 tuổi, sau một lần bị má đánh đập chửi rủa thậm tệ, tui trốn vào phòng lấy một chiếc khăn lớn xiết cổ đến lúc đã muốn lè lưỡi ra thì má tui phát hiện được. Má tui gỡ khăn ra, nhìn tui giận dữ. Bà nắm tóc tui xoay vòng vòng, đấm vào hai mắt tui, miệng la lớn:
-tao đánh cho mày lọt tròng té nổ! Ông trời đãng lọc cho mày mù!
Tui ức quá, nói:
-Má đọc kinh siêng năng đi nhà thờ làm chi mà đánh đập chửi rủa tục tĩu quá vậy!
Má tui giận quá đánh tiếp. . . Từ đó tui sợ quá không dám thắt cổ nữa.
Năm 1966 má đưa tui và em gái về Sài Gòn sống với anh trai lúc này đã có vợ. Năm ấy tui đã 19 tuổi, từ đó em gái tui bắt đầu dắt tui đi nhà thờ Bắc Hà. Trước đây tui chỉ lần chuỗi theo thói quen của một người có đạo, tui không biết cầu nguyện vì không được đi nhà thờ nghe cha giảng dạy. Nhờ nghe cha giảng tui đã hiểu biết về chúa và Đức Mẹ nhiều hơn,dần dần tui biết cầu nguyện và tin tưởng vào Chúa hơn.
Sau đó em gái tui lấy chồng, tui đến ở với vợ chồng nó. Tui lại làm công việc coi con và chăm sóc nhà cửa cho nó. Mỗi khi tui ăn cơm, nó thường nói nặng nói nhẹ là tui ăn nhiều, hao tốn này nọ. . .Tui buồn quá bỏ đi, sang sống với chị Hai tui lúc đó cũng đã về sống tại Sài gòn. Nhưng chị Hai cũng thường mắng nhiếc: Tao cho mày ăn, tao cho mày ở đậu mà mày không biết điều. . . Tui ở đâu cũng làm lụng sớm tối chứ đâu có ở không mà sao cứ bị mắng chửi hoài.
Lần này tui bỏ đi theo một chị bạn mù có đứa con 7, 8 tuổi. Đứa con chị dắt hai chị em tui đi buôn, nhập nhằng sống qua ngày ở bến xe. Mỗi lần bị khám xét, mặt tui xanh lè xanh lét chỉ biết cầu xin Chúa và Đức Mẹ cứu thoát. Nhiều lần, mấy người mắt sáng bị bắt chỉ còn lại hai chị em mù tụi tui. Lúc đó, tui càng tin tưởng vào Chúa và Đức Mẹ hơn.
Năm 1982, tui vào sống trong hộ tập thể của Hội người mù Quận 11 cùng với một đứa cháu trai. Ở đó, tui tham gia sản xuất chổi và bàn chải chà nhà cùng với các hội viên khác. Thằng cháu ban ngày đi làm thuê, làm mướn, tối về tui nấu cơm cho nó ăn. Giữa năm 2002, hộ tập thể Hội người mù giải thể vì không sản xuất chổi nữa. Cũng may lúc này má tui có để lại một căn nhà nhỏ, hai dì cháu dọn về đó sống nương tựa nhau. Thằng cháu vay mượn buôn bán đắp đổi, tui ở nhà trông coi nhà cửa cơm nước cho nó. Mỗi tháng tui nhận được khoản trợ cấp của cha Thực là 10kg gạo và 10 gói mì. Tuy là khó khăn thiếu thốn, nhưng ở với thằng cháu tui thấy hạnh phúc hơn khi ở với mẹ, với chị em gái.
Năm 2006, tui mắc bệnh sỏi gan, sỏi mật, bác sĩ kêu phải mổ nhưng tui đâu có tiền! Tui lo sợ lắm, ngày đêm cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ. Tui được bác sĩ Phấn mổ miễn phí, còn tiền viện phí phải nợ nần. Rồi chị em đồng cảnh ngộ mỗi người góp chút đỉnh giúp cho tui trả hết nợ. Tui biết là Chúa và Đức Mẹ luôn thương giúp tui.
Tui sống đến ngày hôm nay, lúc khó khăn nhất tui chạy đến với Chúa và cảm thấy được nâng đỡ. Bây giờ bệnh sỏi thận lại tái phát, nhưng tui không sợ hãi lắm, tất cả bệnh tật đau khổ tui phó thác cho Chúa cho Mẹ và cảm thấy bình an.

Vâng, Chúa ơi! Nghe xong câu chuyện của người phụ nữ mù này, con cũng cảm thấy lòng bình an, vì chị đã không để cho con có cảm giác chị là người bị thua thiệt trong cuộc đời, bởi chị đã tin vào Chúa. Con đã hỏi chị: “Chị có bằng lòng để em chia sẻ chuyện đời tư của chị cho nhiều người biết mà thêm lòng tin vào Chúa không?”, chị vui vẻ bằng lòng, vậy nên, trước tiên con muốn kể cho Chúa nghe...!
Lạy Chúa! Xin cho mỗi người trong chúng con biết thương yêu nhau hơn, để chúng con có thể đối xử với nhau bằng một tấm lòng sẵn sàng cảm thông và chia sẻ, ngõ hầu người ta dễ dàng nhận biết sự hiện diện của Chúa qua những nghĩa cử yêu thương đó của chúng con, Chúa nhé!

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

NIỀM TIN CỦA HAI PHỤ NỮ MÙ

“Bấy giờ Người sờ vào mắt họ và nói: ‘Các anh tin thế nào thì được như vậy!’”
(Mát-thêu: 9, 29)

Tin Mừng hôm nay nói về hai người mù được Chúa chữa cho khỏi bị mù. Phần tôi, tôi đã được nghe hai người phụ nữ mù kể về cuộc đời họ. Họ đã tin vào Chúa như thế nào, dù họ không được nhìn thấy, nhưng họ đã có được cặp mắt đức tin rất sáng. Tôi như nghe thấy Chúa Giê-su đang nói với mình rằng: “Các chị ấy đã tin như thế nào thì được như vậy!”

1. VIẾT THEO LỜI KỂ CỦA CHỊ PHƯƠNG

Tôi lớn lên trong một gia đình có năm anh em. Năm tôi lên 3 tuổi, cả năm anh em đều mắc bệnh đậu mùa. Bốn anh chị em của tôi đã chết, chỉ còn lại một mình tôi sống sót nhưng bị mù cả hai mắt. Ít lâu sau bố tôi cũng qua đời, mẹ tôi gởi tôi vào học trong trường của các Sơ để tôi được học giáo lý hẳn hoi. Các Sơ cũng dạy văn hóa cho tôi nữa, đến lớp chín thì tôi chuyển sang trường Phục hồi Chức năng cho người khiếm thị ở Sài Gòn để học nghề. Ở đó, tôi được huấn luyện để trở thành một điện thoại viên. Rồi tôi được nhận vào làm việc trong một tổng đài điện thoại ở Long Khánh.
Năm 1971, tôi kết hôn với một người sáng mắt, năm ấy tôi chỉ mới 20 tuổi nên đã rất tin tưởng vào cuộc hôn nhân này. Được khoảng một năm, tôi dần dần nhận ra rằng hai chúng tôi không mấy hợp nhau. Khi con gái đầu lòng của chúng tôi còn rất nhỏ, anh ấy đã bỏ tôi một mình muôi con. Anh ấy về quê sinh sống bằng nghề sửa chữa đồ điện tử, thỉnh thoảng vào Sài gòn mua những thứ cần thiết cho công việc làm ăn. Lần ấy anh vào mua đồ thì bị kẹt lại ở Sài Gòn do biến cố 30-4-75. Anh lo cho mẹ con tôi chạy loạn. . . Sau Giải Phóng, anh sống chung với tôi tại khu tập thể mà nhà nước dành cho người khiếm thị. Người ta thấy anh mắt sáng mà chịu lấy vợ là người khiếm thị nên tạo cho anh công ăn việc làm. Thời gian đó vợ chồng tôi lại chung sống với nhau có thêm một trai, một gái nữa. Cho đến lúc ấy, tôi chua chát nhận ra rằng anh đến với tôi chỉ vì anh ở đất Sài gòn không nơi nương tựa, không người thân thích. . . Rồi một lần nữa anh lại bỏ tôi để lấy một người con gái khác khỏe mạnh, có học thức và có tiền của hơn tôi. Chồng tôi đem theo đứa con trai, để lại cho tôi một mình nuôi hai đứa con gái. Lúc đó quá kiệt quệ, tôi phải đi bán vé số để nuôi con, tay tôi cầm xấp vé số mà nước mắt cứ ứa ra. . . Có lẽ nhìn vẻ mặt u buồn của tôi, người ta cũng không thích mua nên tôi bán ế ẩm lắm. . . Khoảng thời gian đó, mẹ con tôi rất thiếu thốn và cùng cực. Nếu tôi không có lòng tin vào Chúa và Đức Mẹ, tôi không biết làm sao để vượt qua nữa! Nhiều người xúi tôi đưa 2 đứa con gái cho chồng nuôi để đỡ cực thân, nhưng tôi sợ con gái tôi bị cảnh dì ghẻ con chồng lắm, vả lại tôi cũng rất thương chúng. . .
Những ngày gian nan đó, tôi luôn cầu nguyện và lần chuỗi xin Chúa và Đức Mẹ ban ơn giúp sức cho tôi. Ba mẹ con sống nương tựa nhau, tôi tham gia sản xuất chổi và bàn chải ở Hội người mù Quận 10, con gái lớn đi làm nghề thủ công mỹ nghệ cho người ta. Thấy hoàn cảnh bi đát của chúng tôi, người ta cũng thương mà giúp đỡ qua ngày. Bây giờ hai con gái tôi đã có chồng, Chúa thương ban cho tôi hai đứa con gái ngoan hiền và rể hiền nữa. Cuộc sống của tôi hiện nay cũng khá hơn, tôi chỉ còn nỗi buồn về đứa con trai của tôi và con cái của nó. Hồi đó khi cha nó bỏ đi mang nó theo, tôi nghĩ nó là con trai theo ba thì có tương lai hơn là ở với tôi. Nhưng cha nó là người không có đạo, nên dần dần nó cũng lơ là việc đạo nghĩa. Con trai của tôi đã chết lúc 31 tuổi vì tai nạn xe cộ, không biết phần linh hồn của nó ra sao?
Cuộc đời tôi trải qua bao lần khốn khó, lúc nào tôi cũng chỉ biết trông cậy vào Chúa. Nếu tôi không có Chúa thì tôi cũng không biết mình ra sao nữa!

16/11/2010

2. VIẾT THEO LỜI KỂ CỦA CHỊ GÁI

Tôi từ nhỏ sinh ra đã bị bệnh mắt bẩm sinh không nhìn thấy gì. Năm lên 10 tuổi, cha mẹ tôi chết, tôi và các anh chị đứa về ở với chú, đứa ở với dì. Được ít lâu, chú, dì không lo nổi, anh chị em tôi lưu lạc bặt tin nhau từ đó. Tôi được đưa vào trại mồ côi của cha Phao-lô Nguyễn Thanh Hoan ở Bình Thuận. Nhân dịp có tàu hạm đội của Mỹ neo đậu ngoài biển, cha Hoan đã đưa tôi ra xin chữa mắt. Sau khi mổ, tôi bắt đầu nhìn thấy ánh sáng nhưng hơi kém nên tôi vẫn phải sống như người mù. Trong thời gian đó, tôi được học hỏi giáo lý và rửa tội. Từ khi biết Chúa, biết Mẹ tôi thường cầu xin cho mình tìm gặp lại được anh chị.
Năm 1975 nhà nước tiếp quản viện mồ côi, trong số gần 300 đứa con nuôi của Cha Hoan, những ai trưởng thành khôn lanh đều ra đời sinh sống. Hoàn cảnh tôi chưa biết đi đâu, Cha khuyên tôi nên theo các em nhỏ để chăm sóc giúp đỡ các em về mặt tinh thần. Tôi và một số em còn lại vào ở trong trại tế bần Bình Thuận cùng với những người già lão. . .
Năm 1989 ra khỏi trại tế bần tỉnh Bỉnh Thuận, tôi vô Sài Gòn rồi quen biết và tiến tới hôn nhân với một người mù. Tôi sống với gia đình chồng, những tưởng từ nay mình đã có một nơi yên thân, nhưng chỉ được 6 năm thì chồng chết. Lần này tôi lại may mắn được sống chung với một số chị em bạn đồng cảnh ngộ tại khu tập thể của Hội người mù Quận 11. Chị em đi bán vé số, làm những công việc lặt vặt nương tựa nhau qua ngày.
Cuối năm 2003 Hội người mù Quận 11 giải tán khu tập thể, một lần nữa tôi lại bơ vơ không nhà. Một chị bạn mù hoàn toàn lại hay đau yếu sống cô đơn một mình ở Củ Chi, chị rủ tôi về sống chung cho có chị có em. Tôi rất lo sợ cho tương lai, vì bây giờ tôi cũng hay đau yếu, tiền đâu mà uống thuốc, tiền đâu mà sinh sống. Mỗi tháng tôi chỉ nhận được 50.000 đồng trợ cấp của nhà nước. Cũng may mà có sự giúp đỡ của cha Thực giáo xứ Hà Đông, tôi có thêm được mỗi tháng 10kg gạo và 10 gói mì không lo đói. Nhưng còn bệnh tật thuốc thang, tôi lo lắm nhưng đành phó thác cho Chúa. Tôi nghĩ đến lời Phúc Âm “Hãy xem chim trời, chúng không gieo không gặt mà Cha trên trời còn nuôi chúng, huống chi anh em chẳng quý giá hơn chúng sao?” và cảm thấy đỡ lo lắng.
Những lúc gặp sóng gió, trắc trở cầu xin mà không được như ý, tôi cảm thấy như Chúa không nghe lời tôi. Nhưng rồi bệnh tật, ốm đau, cô đơn và thất bại đã khiến tôi nhận ra rằng: Tôi chẳng có của cải, tài năng gì để cho người chung quanh tôn trọng, thế nhưng vẫn có những người hảo tâm tốt bụng đã quan tâm giúp đỡ tôi, tất cả chẳng phải là tình yêu thương của Chúa sao? Và tôi lại tin tưởng, tôi lại cầu nguyện mỗi khi cô đơn hoặc thất bại.
Trong lúc tôi không ngờ, điều mong mỏi nhất đã xảy ra, tôi tìm lại được anh chị ruột và cháu của mình. Hàng tháng trời sau đó, tôi thường giật mình thức dậy trong đêm, ngồi dậy véo vào da thịt thật mạnh để xem thử mình đang tỉnh hay mơ. Sau 40 năm trời, bây giờ tôi mới thực sự có một mái ấm gia đình. Tôi tin chắc vào Chúa và Đức Mẹ vẫn thương yêu tôi, tôi chỉ cầu xin cho mình và những người thân được bình an, khỏe mạnh mà thôi.
4/11/2010

Lạy Chúa, biết bao con cái Chúa đang lầm than vất vả, xin Chúa hãy tỏ lộ tình thương của Chúa cho chúng con. Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa Đấng chuộc tội!
Và con nghe có tiếng Chúa nói: Con tin thế nào thì được như vậy!”

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

XÂY NHÀ TRÊN ĐÁ

“Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá.”
(Mát-thêu: 7, 24)

Khi làm được một việc đúng theo lời Chúa dạy, tâm hồn tôi luôn cảm thấy rất hạnh phúc và bình an. Nếu tôi luôn luôn thực hành tốt những điều Chúa dạy, thì tôi sẽ được ví như một người khôn xây nhà trên đá, tôi chẳng phải sợ hãi có kẻ ganh ghét hận thù! Khi sống trong vùng ân sủng của Chúa như thế, tâm hồn tôi chẳng còn chỗ cho những toan tính thiệt hơn, chẳng còn nghĩ đến chuyện tranh quyền đoạt lợi, mà làm điều gian dối... Khốn thay! Tôi lại thuộc về thế gian, nên cái sự dữ thế gian nó cứ lưu trú trong con người đầy tham vọng của tôi, nó tìm dịp để lôi kéo tôi đi sai đường lối của Thiên Chúa. Nhiều lúc, sự khôn ngoan theo kiểu con cái thế gian trách móc tôi: “Sao mi dại khờ thế!”, khiến bản tính tự ái trong tôi lại trỗi dậy, bảo tôi làm những điều mà con cái sự dữ vốn cho là khôn ngoan... Để rồi trong tôi lại nổi lên những cơn sóng gió, những cơn sóng cứ thế cuốn tôi đi. Rồi thì bão táp mưa sa ập xuống đời, những lúc ấy tôi có cảm giác như mình đang xây nhà trên bãi cát, và tất cả đã bị mưa bão cuốn phăng đi, chỉ còn lại tôi trơ trụi một mình!

Chúa ơi,
con ngồi đây nghe tim mình xao động,
suy nghĩ về cuộc đời cứ bỗng chốc đổi thay.
Đã bao ngày Chúa bên con, Ngài thinh lặng.
Mảng đời con nổi chìm trong nước mắt!

Lạy Chúa,
Chúa bảo con xây nhà trên nền đá:
là góp nhặt từng viên đá dẫu nhỏ nhoi,
là thực thi mọi điều Chúa dạy!
Con hạnh phúc khi làm theo lời Chúa
Dù nhỏ nhoi như viên sỏi tầm thường
Tim rộn rã tiếng dương cầm vui hát!
Nhưng Chúa ơi,
Sự dữ thế gian thường rủ con theo nó!
Nó ngọt ngào và lấp lánh ánh hào quang!

Chúa ơi!
Xin ở bên con ngay cả trong giấc ngủ,
giữ gìn con trọn vẹn đủ cho Ngài,
và thêm sức cho con đủ quyết tâm!
Xin cho con biết trầm mình, xây nhà trên nền đá!

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

HỢP TÁC VỚI CHÚA

Đức Giê-su gọi các môn đệ lại mà nói : "Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi và họ không có gì ăn. Thầy không muốn giải tán họ, để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ bị xỉu dọc đường." Các môn đệ thưa : "Trong nơi hoang vắng này, chúng con lấy đâu ra đủ bánh cho đám đông như vậy ăn no ?" Đức Giê-su hỏi : "Anh em có mấy chiếc bánh ?" Các ông đáp : "Thưa có bảy chiếc bánh và một ít cá nhỏ."’
(Mát-thêu: 15, 32-34)

Ngày xưa, Chúa Giê-su đã giảng dạy cho dân chúng đến khản cổ hao hơi, rồi Chúa lại còn chạnh lòng thương họ đói khát... thì không có lẽ gì ngày nay Chúa không còn thương người trần thế nữa! Cứ như những người cha trần thế, khi họ còn ở gần những đứa con của mình, họ lo cho nó bao nhiêu, thì lúc họ ở xa con mình họ sẽ lo cho nó hơn thế nhiều!
Trước khi bước vào cuộc tử nạn, trước khi chia tay với môn đệ Chúa đã để lại bí tích thánh thể, nuôi sống con cái của Chúa. Vậy thì cái đói khát cơm ăn, áo mặc của hàng trăm triệu con người trên trái đất hiện nay không làm Chúa quan tâm sao? Tôi chắc là Chúa còn khắc khoải hơn tôi gấp vạn lần!
Đọc đoạn Tin Mừng hôm nay, tôi thấy, Chúa đòi hỏi phải có bảy cái bánh và ít cá nhỏ của mấy ông môn đệ, Người mới hóa bánh ra nhiều, và đưa cho các ông phát cho đám đông dân chúng đang có mặt tại đó. Tôi như nghe thấy, Chúa đang hỏi tôi, và hỏi từng người một trong chúng ta:
“Con có gì cho những người đang bị nạn ở vùng lũ lụt miền Trung không?”
“Con có gì cho người què đang ngồi ăn xin ở ngã tư đường kia chăng?”
. . .
Tôi đã hợp tác với Chúa như thế nào? Hay tôi dễ dàng nói:
“Con chẳng có tiền Chúa ạ!”
Tôi hình dung ra ánh mắt buồn rầu của Chúa, và thấy mình thật ích kỷ làm sao, trong căn phòng ấm áp của mình! Tôi nghe thấy tiếng gõ “cốc, cốc” của thằng bé rao hủ tíu gõ, tôi hình dung ra nó trong manh áo mỏng giữa trời lạnh giá!... Tôi lại nghe tiếng Chúa hỏi:
“Con có gì để giúp cho thằng bé đó hay không?”

Chúa ơi, con nghĩ ra rồi, con thầm cầu mong cho có nhiều người mua hủ tíu của chủ nó!
Con chỉ có một tấm lòng thành nói với Chúa, con biết Chúa đang lắng nghe, và nhậm lời con cầu xin, điều mà con ước mong cho thằng bé đó. Con tin rằng Chúa sẽ làm một điều gì đó cho thằng bé đang lủi thủi đi trong đêm vắng ngoài kia, vì lòng thương xót của Chúa chẳng thể nào thôi không thương xót!

Lạy Chúa! Tình thương của Chúa vẫn hằng ngày tuôn đổ xuống đời con, thế mà con lại hững hờ với anh em đồng loại, bỏ mặc họ khắc khoải trong lầm than, có khác gì con bỏ mặc Chúa khắc khoải trong đêm vắng! Xin cho con luôn biết hợp tác với Chúa, bằng những lời cầu nguyện chân thành, hoặc bằng những việc làm thiết thực, để con có thể chia sẻ tình thương của Chúa với những người sống chung quanh con, Chúa nhé!

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

CON ĐƯỢC THẤY!

“Từ gốc tổ Gie-sê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ,
từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non.”
(I-sai-a: 11,1)

Con được thấy!
Mầm non ấy nở thành hoa thiên tuế,
Một bông hoa tinh túy của trời cao
Từ cõi ngàn trăng sao, xuống thế làm người.
Lời Đức Chúa hứa ngàn xưa thành hiện thực
Ánh sao lạ làm sực tỉnh cả trời Đông.

Con được thấy!
Đấng cứu tinh xuất hiện
Không vương quyền, không mũ áo xa hoa;
Chọn hang đá Bê-lem, sinh ra trong khốn khó!

Con được thấy!
Đường đi lên núi Chúa,
Có hoa hồng trổ gai quấn vòng quanh Thập tự.
Giê-su, Con Thiên Chúa đó ư,
Mầm non từ gốc tổ Gie-sê?
Từ hang đá Bê-lem lên đến tận đỉnh đồi
Hoa nở rồi, chiều Can-vê, chiều tím
Hoa trổ sinh Giá cứu chuộc cho đời.

Hôm nay... con được thấy!
Ngôi Lời còn ở giữa chúng con,
Con bình an vì có Chúa ở cùng!

...Nghìn trùng ơi!
Hoa thiên tuế trên đầu ngươi rực rỡ
Và mùa xuân viên mãn phía chân trời
Hãy cùng tôi hát dâng Người bài ca chúc tụng!!!

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

NIỀM TIN CỦA VIÊN ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG

“Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh.”
(Mát-thêu: 8, 8)

Lời nói trên đây của viên đại đội trưởng, tự nó đã làm sáng lên nơi ông một niềm tin ngời ngời. Chúa Giê-su đã ngạc nhiên, vì chẳng có mấy người dân Israel tin tưởng một cách mạnh mẽ đến thế vào Chúa . Chính niềm tin mạnh mẽ đó đã khiến Chúa Giê-su cấp thời ra tay cứu giúp người đầy tớ của ông ta.
Phần tôi, nếu như tôi có được lòng tin mạnh mẽ như vậy, thì có lẽ tôi sẽ là người hạnh phúc nhất trên đời. Bởi vì, trong mỗi Thánh lễ, khi đáp: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh.”, tôi nhận thấy tâm hồn mình rất bình an. Những lúc ấy tôi cảm nghiệm được tình yêu thương tha thứ của Chúa nhiệm màu một cách rõ rệt hơn bao giờ hết!
Tuy nhiên, cũng có đôi lúc, vì mặc cảm tội lỗi quá nặng nề, miệng tôi thì đọc như vậy, song trong lòng tôi vẫn còn lấn cấn thế nào ấy! Quả là Chúa chẳng dễ dàng chút nào khi nói: “Lòng tin của con đã cứu chữa con!” Vì tôi đã nhiều phen không hợp tác với Chúa, tôi đã nhiều khi chẳng hoàn toàn tin tưởng phó thác nơi Ngài, những lúc như vậy làm sao Ngài có thể thực hiện những điều tốt nhất cho tôi?

Lạy Chúa,
Con chỉ là một cánh lục bình trôi vô định
Có những lúc bình minh sáng trên sông
Cánh lục bình điểm sắc hoa tim tím
Đời êm chảy giữa dòng sông thơ mộng!
Có những lúc sóng dập vùi bến bãi
Cánh lục bình ủ rũ hóa màu nâu
Con nhìn đâu cũng thấy đời là giông tố!
Con tìm về bến đỗ của Tình Yêu
Là chính Chúa, là người yêu con muôn thuở!

Nhưng, Chúa ơi!
Con lại là kẻ thường hay phụ tình Ngài,
lại quen thói lục bình ưa dập dềnh trên sông nước,
lại buông mình lả lướt với thời gian. . ,
gặp sự dữ mới quay đầu về bến đỗ!

Chúa ơi,
Xin hãy ôm chặt con trong vòng tay của Chúa
Hãy bảo con tin tưởng ở nơi Ngài
Hãy chỉ nói một lời thôi: “Con ơi, Ta vẫn đợi!”