15/5/2012
‘Vào quãng nửa đêm, ông Phao-lô và ông Xi-la hát thánh ca cầu nguyện với Thiên Chúa ; các người tù nghe hai ông hát. Bỗng nhiên có động đất mạnh, khiến nền móng nhà tù phải rung chuyển. Ngay lúc đó, tất cả các cửa mở toang và xiềng xích của mọi người buột tung ra. Viên cai ngục choàng dậy và thấy các cửa ngục mở toang, liền rút gươm định tự tử, vì tưởng rằng các người tù đã trốn đi. Nhưng ông Phao-lô lớn tiếng bảo : "Ông chớ hại mình làm chi : chúng tôi còn cả đây mà !"’ (Trích sách Công Vụ Tông-đồ: 16, 25-28)
Trong một bối cảnh bị tù đày như thế, ông Phao-lô và ông Xi-la vẫn có thể hát thánh ca để cầu nguyện với Thiên Chúa! Điều đó chứng tỏ hai ông không hề sợ hãi trước sức mạnh của nhà cầm quyền, trái lại họ vẫn tin tưởng vào Thiên Chúa, và niềm tin của họ đã được những người tù khác chú ý...
Tại sao động đất mạnh đến nỗi mở toang các cửa, và xiềng xích của mỗi người bị buột tung, mà họ lại không hề hấn gì? Tôi tin rằng, không phải ngẫu nhiên mà động đất đã xảy ra vào đúng thời điểm đó, và vào đúng tại nền móng của nhà tù như vậy. chính Chúa quan phòng đã làm việc đó, vì nghe lời cầu nguyện của hai ông Phao-lô và Xi-la. Tôi tin rằng, Chúa làm vậy để cứu thoát hai ông, và để chứng tỏ quyền uy của Thiên Chúa cho mọi người thấy. Chúa làm vậy cũng là để củng cố sức mạnh cho những lời rao giảng của hai vị Tông-đồ này. Tôi tin chắc chắn như thế!
Trong cuộc đời mình, tôi cũng đã trải qua nhiều cơn nguy khốn, và khi tôi cầu nguyện, Chúa đã lắng nghe... Không phải lúc nào những lời cầu nguyện của tôi cũng được Chúa đáp ứng theo như tôi mong muốn, cách Chúa làm không như tôi tưởng tượng. Mãi sau này tôi mới nghiệm ra rằng, Chúa quan phòng đã cứu giúp tôi không phải chỉ ở ngay thời điểm tôi cầu xin với Chúa, mà Người còn tính đến chuyện về sau cho tôi nữa! Có nhiều chuyện xảy ra khiến tôi hiểu rằng, tôi chỉ là một khí cụ trong tay Chúa, Chúa đã dùng tôi như một mắt xích trong chương trình cứu độ nhân loại của Chúa Cha. Tất nhiên, đã là con người ai mà không sợ gian truân khốn khó? Thế nhưng, “vàng không sợ thử lửa”, ta muốn trở nên con người tốt thì phải tôi luyện mình trong gian nan thử thách! Lời cầu nguyện tốt nhất của tôi là: Xin được vâng theo thánh ý Chúa, xin được đẹp lòng Chúa Cha trên trời! Mọi nỗi sợ hãi lắng lo cho tương lai, tôi xin đặt trọn vào tay Chúa quan phòng. Chúa sẽ chẳng bỏ rơi tôi khi tôi đặt trọn niềm tin tưởng vào Chúa!
Lạy Chúa!Chúa đã sai các vị Tông-đồ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, họ ra đi và gặp nhiều gian truân thử thách, Chúa đã chứng tỏ Chúa luôn đồng hành với họ. Con cũng xin đáp lại lời mời gọi của Chúa, con sẽ cố gắng sống một đời làm chứng nhân cho Chúa! Xin Chúa quan phòng luôn ở bên con để giúp con hoàn thành sứ vụ của mình, Chúa nhé!
Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013
VIẾT VỀ MẸ TÔI
Hôm nay nhiều quốc gia trên thế giới có lệ mừng “MOTHERS’ DAY”. Đó là một truyền thống tốt đẹp, nên người dân Việt Nam bây giờ cũng có nhiều người chú ý đến ngày này. Riêng tôi, là một người bệnh tật từ nhỏ, đã khiến mẹ phải vất vả vì tôi rất nhiều; tôi luôn tâm niệm rằng: “Mình phải sống tươi vui, để mẹ cảm thấy hạnh phúc vì những niềm vui của mình.” Tôi biết, những tâm sự của tôi có thể khiến cho người nào đó se lòng vì không còn mẹ, thậm chí những người chưa một lần biết mẹ mình là ai! Nhưng dù sao tôi vẫn muốn viết ra đây, bởi tôi mong được chia sẻ những cảm nghiệm của mình về sự hy sinh của người mẹ, những cảm nghiệm mà tôi có được qua những tháng ngày bệnh tật.
Chiều nay 7 anh chị em chúng tôi quây quần bên bố mẹ, cùng với các cháu nhỏ chúc mừng “Mothers’ Day”. Anh trai tôi đã đọc một bài thơ tặng cho mẹ, bài thơ của anh làm cho chúng tôi cảm động sụt sùi nước mắt. Những dòng thơ vang lên, ôn lại cho chúng tôi cả quãng đời vất vả của mẹ. Hình ảnh mẹ đạp chiếc xe cà tàng đi bán dầu gió khắp các hang cùng ngõ hẻm... Hình ảnh mẹ hai tay xách nặng hàng hóa, chạy đuổi theo cho kịp chuyến xe đò... Hình ảnh mẹ vật lộn với những cơn đau bệnh, giữa cái sống và cái chết của 3 đứa con mắc bệnh Điabetes ở lứa tuổi 17... Hình ảnh mẹ ngồi nhìn mớ quần áo cũ, với những buổi chợ ế ẩm... Hình ảnh mẹ ngồi cặm cụi cắt những xấp vải dầy để may quần áo bán cho người lao động... Hình ảnh mẹ đấu tranh với những tay bác sĩ cẩu thả, để cứu sống mạng em gái, rồi sau đó là anh trai tôi... Hình ảnh mẹ đứng khóc trước tượng Đức Mẹ, và cầu xin Mẹ cứu giúp đứa con trai út bị sốt bại liệt... Hình ảnh mẹ thao thức suốt 3 ngày đêm bên cạnh giường bệnh của tôi, con gái bà đã hôm mê suốt chừng ấy ngày, và các bác sĩ đã nói rằng khó lòng qua khỏi... Chúng tôi cười mà nước mắt còn đẫm mi, chúng tôi cùng nhau ôn lại những ngày gian khổ mà hạnh phúc, vì cảm nhận được tình thương yêu của mẹ. Và qua đó, chúng tôi nhận ra tình yêu thương của Chúa đã đổ xuống tràn ngập trên gia đình chúng tôi.
Với gần ba chục năm mang bệnh đau cột sống, mẹ vẫn cắn nhịn đau, để làm việc nuôi nấng chạy chữa thuốc men cho chúng tôi. Giờ đây mẹ tôi đã 76 tuổi, mẹ phải mang quanh mình một cái áo giáp để đỡ cột sống, hai chân phải mang đôi vớ cao su bó chặt để gìn giữ đôi chân đã bị giãn tĩnh mạch. Tôi biết, mẹ có thể không phải mang những thứ khó chịu đó trên mình, nhưng như vậy mẹ sẽ phải nằm trên giường suốt ngày không được làm việc. Lẽ ra, tuổi này mẹ có thể rảnh tay để đi làm công tác từ thiện như mộng ước thời con gái của bà. Nhưng vì thương những đứa con khuyết tật, vì thương con cái làm ăn vất vả, mẹ vẫn làm lụng quanh quẩn trong nhà để chăm sóc chồng đau, con bệnh. Nhiều lúc thấy mẹ phải đeo bộ quần áo giáp vô cùng khó chịu đó, tôi bất lực chẳng biết làm gì cho mẹ, chỉ biết nói với mẹ: “Thôi mẹ ráng chịu đựng, mai mốt mẹ sẽ lên thiên đàng khỏi phải qua lửa luyện ngục!” Thực lòng tôi thấy như thế, nhưng mẹ tôi vẫn cho là mẹ chưa xứng đáng đứng trước mặt Chúa, mẹ bảo mẹ còn phải thanh luyện mới được Chúa cho gặp mặt!
Mẹ tôi không phải là một phụ nữ quê mùa, thời con gái, bà đã từng học chơi đàn Mandolin, từng tham gia hát ca đoàn từ thời còn dâng thánh lễ bằng tiếng Latin, bà đã từng ước mong hiến dâng cuộc đời cho các công việc từ thiện... Bà bảo “Ông ngoại con chết sớm, rồi bác con cũng đi lấy vợ sớm... Mẹ lấy chồng là vì vâng lời bà ngoại, chứ mẹ đã định ở giá để nuôi bà ngoại và hai em...”. Tôi thấy, cả đời mẹ tôi đã sống cho chồng cho con, mẹ chẳng bao giờ nghĩ đến bản thân mình... Có miếng ăn ngon, mẹ dành cho con, chẳng bao giờ mẹ ngồi lê đôi mach. Thỉnh thoảng, có được thời gian rảnh rỗi mẹ lại mang áo quần ra khâu vá. bây giờ già rồi bà còn lo cho cả cháu cố... thương đứa nghèo, thương đứa vất vả... coi con cho cháu đi làm...
Mẹ tôi có đến 7 đứa con, nhưng đứa nào mẹ cũng thương, mỗi đứa mẹ thương một cách, đứa nào cũng là con cưng của mẹ. Người ngoài không biết, thấy cách bà lo cho tôi, người ta tưởng tôi được cưng nhất; thấy cách bà lo cho chị tôi, người ta tưởng chị tôi là con gái một của bà... Vì bệnh tật lại mù lòa đã lâu, tôi là đứa con gần gũi với bà nhất, bà cũng lại cực khổ nhiều nhất vì tôi!
Người ta cho rằng có sự kiện thần giao cách cảm, không biết giữa tôi và mẹ có thần giao cách cảm hay không, chỉ biết rằng giữa tôi và mẹ có những chuyện xảy ra khá lạ lùng. Tôi nhớ một buổi chiều khoảng năm 1983, tôi tự lãnh trách nhiệm nấu cơm cho cả nhà ăn, rồi bị phỏng mấy ngón tay. Hôm đó tôi kho cá, thấy mùi cá khét lẹt, tôi vội chạy xuống bếp bắc nồi cá kho xuống. Trong lúc vội vã, tôi đã dùng hai bàn tay trần để bắc nồi cá. Rồi cũng vì vội vã, tôi lúng túng đến nỗi không biết đặt nồi cá ở đâu, mà cứ loay hoay nắm chặt lấy hai quai nồi bằng mấy ngón tay trần. Cho đến khi tôi bình tĩnh đặt được nồi cá xuống, thì hai tay tôi đã bị phỏng đỏ rừ... Tối đó, mẹ tôi đi chợ bán hàng về, vừa bước vào cổng, bà đã la lên ầm ĩ:
-Chết rồi! Chết rồi! Mẹ quên không bảo đứa nào nấu cơm, để con Thủy nấu cơm nó bị phỏng thì chết!
Tôi chạy ra đón mẹ, vừa xuýt xoa thổi thổi hai bàn tay, vừa cười với mẹ:
-Gái cưng của mẹ phỏng rồi đây nè! Nhưng mà không sao mẹ ạ!
Mẹ tôi rít lên:
-Hèn chi! Từ lúc bắt đầu lên xe đi, cho tới về, tao cứ nóng ruột ! Lúc ngồi trên xe lam chẳng hiểu làm sao, ruột nóng như lửa đốt, cứ chép miệng sao mình ngu quá không bảo đứa nào nó nấu cơm, chắc hôm nay con Thủy bị bỏng rồi ! Vậy mà bị bỏng thật ! Thế có làm sao không ?...
Tôi nghĩ đến « thần giao cách cảm », và hỏi mẹ cái thời điểm mẹ ngồi trên xe lam, thì quả đúng là lúc tôi bị phỏng.
Một lần khác, cũng có thể nói là « thần giao cách cảm » đã xảy ra giữa tôi và mẹ. Đó là vào một chiều mưa lâm thâm... tôi đang dự thánh lễ trong nhà thờ. Từ đầu thánh lễ cho đến lúc rước lễ, tôi dâng thánh lễ rất sốt sắng và cảm thấy tinh thần hưng phấn... hăng say hát thánh ca. Trong lúc linh mục chủ tế đang dọn chén thánh, Đột nhiên tôi cảm thấy đau nhói như có ai bóp nghẹt quả tim mình. Tôi tập trung ý chí để cảm nghiệm cái đau rất lạ này, tự hỏi chuyện gì xảy ra với mình. Tự nhiên, trong đầu tôi lóe lên ý nghĩ rằng mẹ tôi bị tai nạn xe cộ và bị đau chân. Tôi lắc đầu để xua đi cái ý nghĩ sợ hãi ấy, và tự trấn an mình rằng mẹ không sao đâu... rồi tôi lẩm nhẩm cầu xin cho mẹ được bình an vô sự.
Khi trở về nhà, tôi đã thấy mẹ ngồi trên giường và đang lấy dầu nóng xoa bóp cái đầu gối của bà. Tôi hỏi :
-Mẹ làm sao vậy ?
Bà đáp :
-Mẹ bị đụng xe, nhưng cảm tạ Chúa vì chỉ bị đau cái chân chứ không nguy hiểm gì !
Hôm ấy, anh trai tôi chở mẹ đi mua hàng ở Sài Gòn, về đến Cầu Mới ở Biên Hòa thì bị té xe vì đường mưa trơn trợt. Mẹ tôi kể, lúc ấy xuýt nữa thì bị chiếc xe vận tải cán chết, may mà nó tránh kịp. Tôi hỏi mẹ rồi nhẩm tính, đúng vào thời điểm tôi cảm thấy có ai bóp chặt trái tim tôi, chính là lúc mẹ bị té xe. Anh trai tôi ngồi lái xe mà lại không việc gì ! Tôi đã đọc trong một cuốn sách nào đó, người ta giải thích rằng: « Thần giao cách cảm » thường xảy ra giữa hai người có những mối quan tâm đặc biệt lẫn nhau. Có lẽ cũng vì giữa tôi và mẹ, hai mẹ con rất hiểu ý của nhau chăng ? Có một điều chắc chắn rằng, mẹ rất thương tôi, dù cho tôi có làm mẹ giận đến đâu, mẹ cũng sẵn sàng tha thứ!
Đôi khi trong cuộc sống, người ta cảm thấy rất bình thường khi có một người mẹ bên cạnh mình. Sự bình thường đó nhiều lúc dẫn đến người ta kém trân trọng những gì mẹ hy sinh cho mình, tôi thấy điều đó thật đúng với trường hợp của tôi. Chỉ khi nào có biến cố xảy ra, hay như trong buổi chiều « Mothers’ Day» này, tôi mới cảm nhận được sự hy sinh to lớn của mẹ !
13/5/2012
Chiều nay 7 anh chị em chúng tôi quây quần bên bố mẹ, cùng với các cháu nhỏ chúc mừng “Mothers’ Day”. Anh trai tôi đã đọc một bài thơ tặng cho mẹ, bài thơ của anh làm cho chúng tôi cảm động sụt sùi nước mắt. Những dòng thơ vang lên, ôn lại cho chúng tôi cả quãng đời vất vả của mẹ. Hình ảnh mẹ đạp chiếc xe cà tàng đi bán dầu gió khắp các hang cùng ngõ hẻm... Hình ảnh mẹ hai tay xách nặng hàng hóa, chạy đuổi theo cho kịp chuyến xe đò... Hình ảnh mẹ vật lộn với những cơn đau bệnh, giữa cái sống và cái chết của 3 đứa con mắc bệnh Điabetes ở lứa tuổi 17... Hình ảnh mẹ ngồi nhìn mớ quần áo cũ, với những buổi chợ ế ẩm... Hình ảnh mẹ ngồi cặm cụi cắt những xấp vải dầy để may quần áo bán cho người lao động... Hình ảnh mẹ đấu tranh với những tay bác sĩ cẩu thả, để cứu sống mạng em gái, rồi sau đó là anh trai tôi... Hình ảnh mẹ đứng khóc trước tượng Đức Mẹ, và cầu xin Mẹ cứu giúp đứa con trai út bị sốt bại liệt... Hình ảnh mẹ thao thức suốt 3 ngày đêm bên cạnh giường bệnh của tôi, con gái bà đã hôm mê suốt chừng ấy ngày, và các bác sĩ đã nói rằng khó lòng qua khỏi... Chúng tôi cười mà nước mắt còn đẫm mi, chúng tôi cùng nhau ôn lại những ngày gian khổ mà hạnh phúc, vì cảm nhận được tình thương yêu của mẹ. Và qua đó, chúng tôi nhận ra tình yêu thương của Chúa đã đổ xuống tràn ngập trên gia đình chúng tôi.
Với gần ba chục năm mang bệnh đau cột sống, mẹ vẫn cắn nhịn đau, để làm việc nuôi nấng chạy chữa thuốc men cho chúng tôi. Giờ đây mẹ tôi đã 76 tuổi, mẹ phải mang quanh mình một cái áo giáp để đỡ cột sống, hai chân phải mang đôi vớ cao su bó chặt để gìn giữ đôi chân đã bị giãn tĩnh mạch. Tôi biết, mẹ có thể không phải mang những thứ khó chịu đó trên mình, nhưng như vậy mẹ sẽ phải nằm trên giường suốt ngày không được làm việc. Lẽ ra, tuổi này mẹ có thể rảnh tay để đi làm công tác từ thiện như mộng ước thời con gái của bà. Nhưng vì thương những đứa con khuyết tật, vì thương con cái làm ăn vất vả, mẹ vẫn làm lụng quanh quẩn trong nhà để chăm sóc chồng đau, con bệnh. Nhiều lúc thấy mẹ phải đeo bộ quần áo giáp vô cùng khó chịu đó, tôi bất lực chẳng biết làm gì cho mẹ, chỉ biết nói với mẹ: “Thôi mẹ ráng chịu đựng, mai mốt mẹ sẽ lên thiên đàng khỏi phải qua lửa luyện ngục!” Thực lòng tôi thấy như thế, nhưng mẹ tôi vẫn cho là mẹ chưa xứng đáng đứng trước mặt Chúa, mẹ bảo mẹ còn phải thanh luyện mới được Chúa cho gặp mặt!
Mẹ tôi không phải là một phụ nữ quê mùa, thời con gái, bà đã từng học chơi đàn Mandolin, từng tham gia hát ca đoàn từ thời còn dâng thánh lễ bằng tiếng Latin, bà đã từng ước mong hiến dâng cuộc đời cho các công việc từ thiện... Bà bảo “Ông ngoại con chết sớm, rồi bác con cũng đi lấy vợ sớm... Mẹ lấy chồng là vì vâng lời bà ngoại, chứ mẹ đã định ở giá để nuôi bà ngoại và hai em...”. Tôi thấy, cả đời mẹ tôi đã sống cho chồng cho con, mẹ chẳng bao giờ nghĩ đến bản thân mình... Có miếng ăn ngon, mẹ dành cho con, chẳng bao giờ mẹ ngồi lê đôi mach. Thỉnh thoảng, có được thời gian rảnh rỗi mẹ lại mang áo quần ra khâu vá. bây giờ già rồi bà còn lo cho cả cháu cố... thương đứa nghèo, thương đứa vất vả... coi con cho cháu đi làm...
Mẹ tôi có đến 7 đứa con, nhưng đứa nào mẹ cũng thương, mỗi đứa mẹ thương một cách, đứa nào cũng là con cưng của mẹ. Người ngoài không biết, thấy cách bà lo cho tôi, người ta tưởng tôi được cưng nhất; thấy cách bà lo cho chị tôi, người ta tưởng chị tôi là con gái một của bà... Vì bệnh tật lại mù lòa đã lâu, tôi là đứa con gần gũi với bà nhất, bà cũng lại cực khổ nhiều nhất vì tôi!
Người ta cho rằng có sự kiện thần giao cách cảm, không biết giữa tôi và mẹ có thần giao cách cảm hay không, chỉ biết rằng giữa tôi và mẹ có những chuyện xảy ra khá lạ lùng. Tôi nhớ một buổi chiều khoảng năm 1983, tôi tự lãnh trách nhiệm nấu cơm cho cả nhà ăn, rồi bị phỏng mấy ngón tay. Hôm đó tôi kho cá, thấy mùi cá khét lẹt, tôi vội chạy xuống bếp bắc nồi cá kho xuống. Trong lúc vội vã, tôi đã dùng hai bàn tay trần để bắc nồi cá. Rồi cũng vì vội vã, tôi lúng túng đến nỗi không biết đặt nồi cá ở đâu, mà cứ loay hoay nắm chặt lấy hai quai nồi bằng mấy ngón tay trần. Cho đến khi tôi bình tĩnh đặt được nồi cá xuống, thì hai tay tôi đã bị phỏng đỏ rừ... Tối đó, mẹ tôi đi chợ bán hàng về, vừa bước vào cổng, bà đã la lên ầm ĩ:
-Chết rồi! Chết rồi! Mẹ quên không bảo đứa nào nấu cơm, để con Thủy nấu cơm nó bị phỏng thì chết!
Tôi chạy ra đón mẹ, vừa xuýt xoa thổi thổi hai bàn tay, vừa cười với mẹ:
-Gái cưng của mẹ phỏng rồi đây nè! Nhưng mà không sao mẹ ạ!
Mẹ tôi rít lên:
-Hèn chi! Từ lúc bắt đầu lên xe đi, cho tới về, tao cứ nóng ruột ! Lúc ngồi trên xe lam chẳng hiểu làm sao, ruột nóng như lửa đốt, cứ chép miệng sao mình ngu quá không bảo đứa nào nó nấu cơm, chắc hôm nay con Thủy bị bỏng rồi ! Vậy mà bị bỏng thật ! Thế có làm sao không ?...
Tôi nghĩ đến « thần giao cách cảm », và hỏi mẹ cái thời điểm mẹ ngồi trên xe lam, thì quả đúng là lúc tôi bị phỏng.
Một lần khác, cũng có thể nói là « thần giao cách cảm » đã xảy ra giữa tôi và mẹ. Đó là vào một chiều mưa lâm thâm... tôi đang dự thánh lễ trong nhà thờ. Từ đầu thánh lễ cho đến lúc rước lễ, tôi dâng thánh lễ rất sốt sắng và cảm thấy tinh thần hưng phấn... hăng say hát thánh ca. Trong lúc linh mục chủ tế đang dọn chén thánh, Đột nhiên tôi cảm thấy đau nhói như có ai bóp nghẹt quả tim mình. Tôi tập trung ý chí để cảm nghiệm cái đau rất lạ này, tự hỏi chuyện gì xảy ra với mình. Tự nhiên, trong đầu tôi lóe lên ý nghĩ rằng mẹ tôi bị tai nạn xe cộ và bị đau chân. Tôi lắc đầu để xua đi cái ý nghĩ sợ hãi ấy, và tự trấn an mình rằng mẹ không sao đâu... rồi tôi lẩm nhẩm cầu xin cho mẹ được bình an vô sự.
Khi trở về nhà, tôi đã thấy mẹ ngồi trên giường và đang lấy dầu nóng xoa bóp cái đầu gối của bà. Tôi hỏi :
-Mẹ làm sao vậy ?
Bà đáp :
-Mẹ bị đụng xe, nhưng cảm tạ Chúa vì chỉ bị đau cái chân chứ không nguy hiểm gì !
Hôm ấy, anh trai tôi chở mẹ đi mua hàng ở Sài Gòn, về đến Cầu Mới ở Biên Hòa thì bị té xe vì đường mưa trơn trợt. Mẹ tôi kể, lúc ấy xuýt nữa thì bị chiếc xe vận tải cán chết, may mà nó tránh kịp. Tôi hỏi mẹ rồi nhẩm tính, đúng vào thời điểm tôi cảm thấy có ai bóp chặt trái tim tôi, chính là lúc mẹ bị té xe. Anh trai tôi ngồi lái xe mà lại không việc gì ! Tôi đã đọc trong một cuốn sách nào đó, người ta giải thích rằng: « Thần giao cách cảm » thường xảy ra giữa hai người có những mối quan tâm đặc biệt lẫn nhau. Có lẽ cũng vì giữa tôi và mẹ, hai mẹ con rất hiểu ý của nhau chăng ? Có một điều chắc chắn rằng, mẹ rất thương tôi, dù cho tôi có làm mẹ giận đến đâu, mẹ cũng sẵn sàng tha thứ!
Đôi khi trong cuộc sống, người ta cảm thấy rất bình thường khi có một người mẹ bên cạnh mình. Sự bình thường đó nhiều lúc dẫn đến người ta kém trân trọng những gì mẹ hy sinh cho mình, tôi thấy điều đó thật đúng với trường hợp của tôi. Chỉ khi nào có biến cố xảy ra, hay như trong buổi chiều « Mothers’ Day» này, tôi mới cảm nhận được sự hy sinh to lớn của mẹ !
13/5/2012
CÂU CHUYỆN “NGÔI MỘ TRỐNG”
8/4/2012
Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói : "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu."
Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.” (GA:20, 1-9)
Từ trước đến nay, câu chuyện về “Ngôi mộ trống” được người ta bàn tán không phải là ít! Đã có rất nhiều nghi vấn đặt ra, và cũng có rất nhiều luận chứng để khẳng định tính đúng đắn của câu chuyện này. Tôi cũng đã có thời từng đặt ra những nghi vấn giống như kiểu Sê-lốc Hôm đi khám phá một vụ án. Nhưng may mắn cho tôi, tôi vẫn tin là Chúa đã sống lại thật, vì ngay từ khi còn rất nhỏ tôi đã được dạy bảo để tin như thế. Chính nhờ vậy mà tôi không bị cuốn hút vào con đường sai lạc trước những nghi vấn ấy.
Cho đến sau khi tôi bị mù hoàn toàn, tôi không những chỉ tin Chúa Ki-tô phục sinh theo tín lý, mà còn cảm nghiệm thấy con người tôi được Đức Ki-tô Phục sinh biến đổi một cách ngoạn mục nữa!
Tam Nhật Thánh vừa qua cho tôi có dịp suy nghĩ rất nhiều về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su, cái chết thương đau trên thập giá, và sự phục sinh vinh thắng của Ngài. Đọc kỹ lại những bài đọc trong các ngày Thứ Năm, thứ Sáu và thứ Bảy tuần thánh, tôi thấy được một chuỗi những sự việc có liên quan đến nhau một cách lo-gic. Điều mà tôi thường đòi hỏi giống như Sê-lốc Hôm khi tìm hiểu một sự bí ẩn nào đó, thì nay đã được thỏa mãn qua những ghi chép trong Thánh Kinh. Mỗi khi nghe cụm từ “để ứng nghiệm lời Kinh thánh” xuất hiện chen vào giữa các đoạn Tin Mừng, tôi đã không nhìn ra được tầm mức quan trọng của nó. Thậm chí, tôi chẳng mấy quan tâm đến những cụm từ đó, trong khi đọc Thánh kinh. Nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu được cụm từ đó có ý nghĩa quan trọng như thế nào!
Từ việc Chúa Giê-su xuống thế làm người cho đến khi Chúa chịu chết trên cây thập giá, và sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy,tất cả đều đã được báo trước trong thời Cựu Ước. Chúa Giê-su đã đóng vai trò trung tâm của Tân Ước, chính Người đã đến thế gian để thực hiện ý muốn cứu độ loài người của Chúa Cha, và rồi những gì xảy đến với Người, dù là chủ quan hay khách quan, tất cả đều đúng như lời các ngôn sứ đã nói với dân Ít-ra-en.
Còn một mắt xích cuối cùng nữa thôi, đó là sự kiện “Ngôi mộ trống”. Điều gì đã xảy ra trong những thời khắc kể từ khi Chúa Giê-su được táng xác trong mồ? Giả như, các môn đệ đã giấu xác Chúa Giê-su để rồi nói với mọi người rằng, Thầy Giê-su của họ đã sống lại; thì “ai”, hoặc “cái gì” đã khiến cho họ, những kẻ yếu đuối đến nỗi phải bỏ chạy phải chối Thầy, lại trở nên những người mạnh mẽ đi rao giảng Tin Mừng Chúa sống lại? Chẳng lẽ họ tự lừa dối chính mình ư? Mà nếu vậy, làm sao họ có đủ can đảm và sức mạnh để chịu chết vì Đức Ki-tô? Cũng vẫn cụm từ “để ứng nghiệm lời Thánh kinh”, một lời giải thích, một lời khẳng định của người trong cuộc, đó là:
“...thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.”
Khi tôi viết đến đây, một cháu gái 10 tuổi của tôi chạy đến khoe với bác Thủy: “Sáng nay, con được Cha xứ tặng cho con gấu bông nè!”
Lucy cho tôi biết rằng, trong thánh lễ sáng nay, Cha xứ đã hỏi thiếu nhi: “Các con có biết ai đã gấp xếp các khăn liệm ở đó gọn gàng ngay ngắn lại không?” Lucy đã giơ tay, xin trả lời câu hỏi và được Cha xứ thưởng cho một con gấu bông xinh xắn. Tôi hỏi Lucy:
-Thế con trả lời ra sao?
-Chúa Giê-su!
Tôi hỏi tiếp:
Sao con biết là Chúa Giê-su ?
Lucy khẳng định một cách chắc nịch:
-Chúa Giê-su chứ còn ai nữa !
Tôi cố hỏi thêm, vì biết rằng Lucy rất nhút nhát, nó ít khi nào dám xung phong lên trả lời như thế này.
-Thế có mấy bạn xung phong lên trả lời câu hỏi này ?
Nó đáp :
-Có mỗi mình con à !
Tôi chợt nghĩ rằng, Chúa đã thúc đẩy cho cháu gái tôi trả lời như vậy, và cảm thấy vui vui trong lòng. Phần tôi, không chỉ những lời trong Thánh kinh đã chứng minh rằng Chúa Giê-su Ki-tô đã phục sinh, mà còn cả những biến cố xảy ra trong cuộc đời tôi đã cho tôi niềm tin ấy !Nhiều điều kỳ diệu đã xảy đến với tôi vì tôi đã đặt niềm tin tưởng phó thác vào Chúa Giê-su. Có đôi lần, tôi chỉ mới nghĩ thầm một điều ước ở trong đầu thôi, thì liền ngay điều đó đã xảy ra với mình. Nếu Chúa Giê-su đã không sống lại và ở bên cạnh tôi, thì Người làm sao nghe được những lời nguyện ước và những lời tâm sự của tôi mỗi ngày ?
Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói : "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu."
Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.” (GA:20, 1-9)
Từ trước đến nay, câu chuyện về “Ngôi mộ trống” được người ta bàn tán không phải là ít! Đã có rất nhiều nghi vấn đặt ra, và cũng có rất nhiều luận chứng để khẳng định tính đúng đắn của câu chuyện này. Tôi cũng đã có thời từng đặt ra những nghi vấn giống như kiểu Sê-lốc Hôm đi khám phá một vụ án. Nhưng may mắn cho tôi, tôi vẫn tin là Chúa đã sống lại thật, vì ngay từ khi còn rất nhỏ tôi đã được dạy bảo để tin như thế. Chính nhờ vậy mà tôi không bị cuốn hút vào con đường sai lạc trước những nghi vấn ấy.
Cho đến sau khi tôi bị mù hoàn toàn, tôi không những chỉ tin Chúa Ki-tô phục sinh theo tín lý, mà còn cảm nghiệm thấy con người tôi được Đức Ki-tô Phục sinh biến đổi một cách ngoạn mục nữa!
Tam Nhật Thánh vừa qua cho tôi có dịp suy nghĩ rất nhiều về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su, cái chết thương đau trên thập giá, và sự phục sinh vinh thắng của Ngài. Đọc kỹ lại những bài đọc trong các ngày Thứ Năm, thứ Sáu và thứ Bảy tuần thánh, tôi thấy được một chuỗi những sự việc có liên quan đến nhau một cách lo-gic. Điều mà tôi thường đòi hỏi giống như Sê-lốc Hôm khi tìm hiểu một sự bí ẩn nào đó, thì nay đã được thỏa mãn qua những ghi chép trong Thánh Kinh. Mỗi khi nghe cụm từ “để ứng nghiệm lời Kinh thánh” xuất hiện chen vào giữa các đoạn Tin Mừng, tôi đã không nhìn ra được tầm mức quan trọng của nó. Thậm chí, tôi chẳng mấy quan tâm đến những cụm từ đó, trong khi đọc Thánh kinh. Nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu được cụm từ đó có ý nghĩa quan trọng như thế nào!
Từ việc Chúa Giê-su xuống thế làm người cho đến khi Chúa chịu chết trên cây thập giá, và sau ba ngày Người sẽ trỗi dậy,tất cả đều đã được báo trước trong thời Cựu Ước. Chúa Giê-su đã đóng vai trò trung tâm của Tân Ước, chính Người đã đến thế gian để thực hiện ý muốn cứu độ loài người của Chúa Cha, và rồi những gì xảy đến với Người, dù là chủ quan hay khách quan, tất cả đều đúng như lời các ngôn sứ đã nói với dân Ít-ra-en.
Còn một mắt xích cuối cùng nữa thôi, đó là sự kiện “Ngôi mộ trống”. Điều gì đã xảy ra trong những thời khắc kể từ khi Chúa Giê-su được táng xác trong mồ? Giả như, các môn đệ đã giấu xác Chúa Giê-su để rồi nói với mọi người rằng, Thầy Giê-su của họ đã sống lại; thì “ai”, hoặc “cái gì” đã khiến cho họ, những kẻ yếu đuối đến nỗi phải bỏ chạy phải chối Thầy, lại trở nên những người mạnh mẽ đi rao giảng Tin Mừng Chúa sống lại? Chẳng lẽ họ tự lừa dối chính mình ư? Mà nếu vậy, làm sao họ có đủ can đảm và sức mạnh để chịu chết vì Đức Ki-tô? Cũng vẫn cụm từ “để ứng nghiệm lời Thánh kinh”, một lời giải thích, một lời khẳng định của người trong cuộc, đó là:
“...thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.”
Khi tôi viết đến đây, một cháu gái 10 tuổi của tôi chạy đến khoe với bác Thủy: “Sáng nay, con được Cha xứ tặng cho con gấu bông nè!”
Lucy cho tôi biết rằng, trong thánh lễ sáng nay, Cha xứ đã hỏi thiếu nhi: “Các con có biết ai đã gấp xếp các khăn liệm ở đó gọn gàng ngay ngắn lại không?” Lucy đã giơ tay, xin trả lời câu hỏi và được Cha xứ thưởng cho một con gấu bông xinh xắn. Tôi hỏi Lucy:
-Thế con trả lời ra sao?
-Chúa Giê-su!
Tôi hỏi tiếp:
Sao con biết là Chúa Giê-su ?
Lucy khẳng định một cách chắc nịch:
-Chúa Giê-su chứ còn ai nữa !
Tôi cố hỏi thêm, vì biết rằng Lucy rất nhút nhát, nó ít khi nào dám xung phong lên trả lời như thế này.
-Thế có mấy bạn xung phong lên trả lời câu hỏi này ?
Nó đáp :
-Có mỗi mình con à !
Tôi chợt nghĩ rằng, Chúa đã thúc đẩy cho cháu gái tôi trả lời như vậy, và cảm thấy vui vui trong lòng. Phần tôi, không chỉ những lời trong Thánh kinh đã chứng minh rằng Chúa Giê-su Ki-tô đã phục sinh, mà còn cả những biến cố xảy ra trong cuộc đời tôi đã cho tôi niềm tin ấy !Nhiều điều kỳ diệu đã xảy đến với tôi vì tôi đã đặt niềm tin tưởng phó thác vào Chúa Giê-su. Có đôi lần, tôi chỉ mới nghĩ thầm một điều ước ở trong đầu thôi, thì liền ngay điều đó đã xảy ra với mình. Nếu Chúa Giê-su đã không sống lại và ở bên cạnh tôi, thì Người làm sao nghe được những lời nguyện ước và những lời tâm sự của tôi mỗi ngày ?
“CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊ-SU” VÀ NHỮNG THẮC MẮC CỦA TRẺ THƠ
1/4/2012
Chúa ơi, hôm nay là ngày Chủ nhật lễ Lá, Giáo hội cho các tín hữu nghe lại Bài Phúc Âm nói về “Cuộc Thương khó của Đức Giê-su Ki-tô”, để chúng con có dịp suy ngẫm về cái chết đau thương của Chúa năm xưa. Bài Phúc Âm đã tóm tắt lại những giờ phút cuối cùng của Giê-su Na-za-reth còn ở tại thế, biết bao sự kiện đã xảy ra khiến cho con phải suy nghĩ, và tự hỏi “Những sự kiện đó nói lên điều gì?” Và “Tại sao Chúa phải chết đau thương như thế mới cứu chuộc được nhân loại? Chúa không còn cách nào khác tốt hơn ư?” Đang mải suy nghĩ để tự trả lời cho những câu hỏi của mình, thì hai cháu nhỏ của con đi học giáo lý ở nhà thờ về. Hai cháu kể cho con nghe rằng: Sáng nay, Cha xứ đã chiếu bộ phim “Cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su”, cho chúng xem. Các cháu của con nói rằng ở nhà thờ ồn quá, chúng xem không hiểu rõ... Vì vậy con đã mở màn hình vi tính cho chúng xem bộ phim ấy trên mạng internet.
Mặc dù con đã nghe bài “Cuộc Thương Khó Chúa Giê-su” nhiều lần và được xem bộ phim về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su chí ít cũng một lần, nhưng sao hôm nay được nghe lại, con thấy lòng mình xúc động ghê gớm! Những lời thuyết minh, những âm thanh thổn thức của nhân vật Giê-su Na-za-reth, và những tiếng quát tháo đòn roi tra tấn của bọn lính , cộng với tiếng la ó của dân thành Giê-ru-sa-lem trong phim... Tất cả đã cho con nhiều cảm xúc đan xen lẫn nhau, Để rồi con đã có câu trả lời cho chính mình và cho những thắc mắc của hai cháu nhỏ.
Khi nghe trong phim, có người thách thức Chúa Giê-su:
-“Ông đã cứu người ta khỏi chết, vậy sao ông không tự cứu mình đi?”,
Lucky hỏi bác Thủy:
“Chúa là con Thiên Chúa, Chúa làm gì mà chẳng được! Tại sao Chúa không cứu chuộc người ta bằng cách khác, mà lại phải chịu đánh đập đau đớn như vậy? Nếu con mà là Chúa Giê-su, thì con nhảy xuống khỏi thập giá liền!
-Giả sử, Chúa Giê-su không bị đau khổ như con người. Cứ có chuyện gì rắc rối xảy ra cho Chúa, Chúa liền lập tức dùng phép lạ để giải quyết, thì Chúa có dám khuyên người ta: “Muốn theo Ta, phải tự vác thập giá mình mà theo!” không? Nếu là con, con có nghe theo lời khuyên đó khi mà chính Chúa đã không chịu vác thập giá của Chúa không?
Lucky trả lời một cách dứt khoát:
-“Không!” Con không nghe!”
Sau khi xem xong cuốn phim “Cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su”, bác Thủy đã giải thích các thắc mắc của hai cháu và kết luận: -Vậy đấy! Chúa Giê-su đã sinh ra làm người với mục đích là để chia sẻ với thân phận con người và để cứu chuộc con người. Chia sẻ với thân phận con người nghĩa là Chúa cũng phải trải qua mọi cái bình thường của con người. Chúa cũng đã phải lo sợ, đau đớn, cô đơn, buồn phiền. Các con có để ý đoạn phim chiếu cảnh Chúa Giê-su thổn thức cầu nguyện với Chúa Cha trong Vườn Giệt-si-ma-ni không? Chúa cũng như các con và bác thôi, khi nghĩ đến cái chết ai mà chẳng sợ! Đặc biệt, Chúa Giê-su lại được biết trước mình phải trải qua những gì, điều đó khiến Chúa đã phải xin với Chúa Cha cho khỏi uống chén đắng... Nhưng, con nên chú ý, Chúa Giê-su chỉ xin Chúa Cha cho mình khỏi uống chén đắng với điều kiện: “Nhưng đừng theo ý con, một vâng theo ý Cha”. Qua Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su”, Chúa dạy chúng ta bài học vâng phục và yêu thương. Vì vâng phục Chúa Cha, Chúa Giê-su đã chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi của chúng ta.
Hai cháu cùng hỏi bác Thủy:
-“Chúa Giê-su chịu chết trên thập giá từ ngày xưa, đâu có liên quan gì đến mình bây giờ đâu, vậy làm sao mà cứu chuộc mình?
-Các con đã thấy cái chết của Chúa Giê-su thật là rùng rợn phải không? Các con có để ý đến hai kẻ trộm cùng bị đóng đinh với Chúa Giê-su không? Hai người đó bị đóng đinh một cách bắt buộc vì họ đã phạm tội. Còn Chúa Giê-su vô tội, quan Phi-la-tô đã không tìm được lý do nào để có thể kết án Chúa Giê-su. Chúa hy sinh chịu chết một cách đau đớn hết sức, chính vì lòng độc ác của con người. Cũng vì Chúa muốn tỏ cho nhân loại thấy được tình yêu tột đỉnh của Chúa dành cho con người. Khi có ai đó làm cho các con đau đớn vì bị tổn thương, thì Chúa cũng sẽ đau đớn vì Chúa quá yêu các con. Ngược lại, khi các con làm cho người ta đau đớn vì bị tổn thương, thì Chúa cũng sẽ đau đớn như vậy. Chúa là vị Cha chung của hàng tỷ con người, hàng tỷ con người cứ gây tổn hại lẫn nhau, khiến cho nỗi đau của Chúa to lớn biết dường nào! Chúa biết rõ chúng ta đau khổ vì tội lỗi của chúng ta. Chính vì thế mà Chúa muốn cứu thoát chúng ta ra khỏi vòng tội lỗi.
2.000 năm trước, để cứu giúp con người, Chúa đã đi khắp các nẻo đường, giảng dạy cho con người biết sống yêu thương, và biết hy sinh vì người khác... Trong các bài giảng của Chúa, tất cả cũng chỉ nhắm đến hai chữ yêu thương mà thôi. Nhưng người ta đâu có mấy ai chịu nghe và làm theo lời Chúa, vì vậy Chúa đã phải dùng cái chết đau thương, để chứng tỏ cho chúng ta thấy được tình yêu sâu thẳm của Chúa. Nếu Chúa Giê-su chết vì bệnh tật, Chúa đâu diễn tả hết cho các con thấy được khát vọng muốn cứu chuộc các con ra khỏi vòng tội lỗi và thấy được tình yêu của Chúa? Từ cái chết trên thập giá năm xưa, Chúa đã sống lại và ra khỏi mồ, Chúa dặn dò các môn đệ tiếp tục rao giảng Lời Chúa. Chúa ở lại với chúng ta qua hình thức Mình Máu Thánh Chúa, và ban ơn Thánh Thần cho chúng ta. Bằng những phương thức ấy, Chúa tiếp tục cứu chuộc nhân loại qua cái chết trên thập giá, các con ạ!
Chúa ơi, sau khi nghe con giảng giải, hai cháu của con có vẻ hiểu ra được phần nào về tình yêu của Chúa, và cảm thông với cái chết của Chúa. Con hy vọng những cảm xúc đó sẽ ở lại mãi trong tâm hồn thơ ngây của chúng, và giúp chúng biết sống yêu thương hơn.
Lạy Chúa Giê-su! Tiếng rên siết vì đau thương đang lan tràn khắp nơi, con nghe như tiếng rên siết của Chúa trong cuộc khổ nạn năm xưa vọng về... Xin cho nhiều người nghe được tiếng rên siết ấy, để mà nhớ đến Chúa, để mà sống theo Lời Chúa dạy... và trái đất này rồi sẽ có hy vọng, không còn tiếng rên siết vì đau thương nữa, mà chỉ còn những tiếng rên siết vì hạnh phúc thôi, Chúa ơi!
Chúa ơi, hôm nay là ngày Chủ nhật lễ Lá, Giáo hội cho các tín hữu nghe lại Bài Phúc Âm nói về “Cuộc Thương khó của Đức Giê-su Ki-tô”, để chúng con có dịp suy ngẫm về cái chết đau thương của Chúa năm xưa. Bài Phúc Âm đã tóm tắt lại những giờ phút cuối cùng của Giê-su Na-za-reth còn ở tại thế, biết bao sự kiện đã xảy ra khiến cho con phải suy nghĩ, và tự hỏi “Những sự kiện đó nói lên điều gì?” Và “Tại sao Chúa phải chết đau thương như thế mới cứu chuộc được nhân loại? Chúa không còn cách nào khác tốt hơn ư?” Đang mải suy nghĩ để tự trả lời cho những câu hỏi của mình, thì hai cháu nhỏ của con đi học giáo lý ở nhà thờ về. Hai cháu kể cho con nghe rằng: Sáng nay, Cha xứ đã chiếu bộ phim “Cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su”, cho chúng xem. Các cháu của con nói rằng ở nhà thờ ồn quá, chúng xem không hiểu rõ... Vì vậy con đã mở màn hình vi tính cho chúng xem bộ phim ấy trên mạng internet.
Mặc dù con đã nghe bài “Cuộc Thương Khó Chúa Giê-su” nhiều lần và được xem bộ phim về cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su chí ít cũng một lần, nhưng sao hôm nay được nghe lại, con thấy lòng mình xúc động ghê gớm! Những lời thuyết minh, những âm thanh thổn thức của nhân vật Giê-su Na-za-reth, và những tiếng quát tháo đòn roi tra tấn của bọn lính , cộng với tiếng la ó của dân thành Giê-ru-sa-lem trong phim... Tất cả đã cho con nhiều cảm xúc đan xen lẫn nhau, Để rồi con đã có câu trả lời cho chính mình và cho những thắc mắc của hai cháu nhỏ.
Khi nghe trong phim, có người thách thức Chúa Giê-su:
-“Ông đã cứu người ta khỏi chết, vậy sao ông không tự cứu mình đi?”,
Lucky hỏi bác Thủy:
“Chúa là con Thiên Chúa, Chúa làm gì mà chẳng được! Tại sao Chúa không cứu chuộc người ta bằng cách khác, mà lại phải chịu đánh đập đau đớn như vậy? Nếu con mà là Chúa Giê-su, thì con nhảy xuống khỏi thập giá liền!
-Giả sử, Chúa Giê-su không bị đau khổ như con người. Cứ có chuyện gì rắc rối xảy ra cho Chúa, Chúa liền lập tức dùng phép lạ để giải quyết, thì Chúa có dám khuyên người ta: “Muốn theo Ta, phải tự vác thập giá mình mà theo!” không? Nếu là con, con có nghe theo lời khuyên đó khi mà chính Chúa đã không chịu vác thập giá của Chúa không?
Lucky trả lời một cách dứt khoát:
-“Không!” Con không nghe!”
Sau khi xem xong cuốn phim “Cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su”, bác Thủy đã giải thích các thắc mắc của hai cháu và kết luận: -Vậy đấy! Chúa Giê-su đã sinh ra làm người với mục đích là để chia sẻ với thân phận con người và để cứu chuộc con người. Chia sẻ với thân phận con người nghĩa là Chúa cũng phải trải qua mọi cái bình thường của con người. Chúa cũng đã phải lo sợ, đau đớn, cô đơn, buồn phiền. Các con có để ý đoạn phim chiếu cảnh Chúa Giê-su thổn thức cầu nguyện với Chúa Cha trong Vườn Giệt-si-ma-ni không? Chúa cũng như các con và bác thôi, khi nghĩ đến cái chết ai mà chẳng sợ! Đặc biệt, Chúa Giê-su lại được biết trước mình phải trải qua những gì, điều đó khiến Chúa đã phải xin với Chúa Cha cho khỏi uống chén đắng... Nhưng, con nên chú ý, Chúa Giê-su chỉ xin Chúa Cha cho mình khỏi uống chén đắng với điều kiện: “Nhưng đừng theo ý con, một vâng theo ý Cha”. Qua Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su”, Chúa dạy chúng ta bài học vâng phục và yêu thương. Vì vâng phục Chúa Cha, Chúa Giê-su đã chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi của chúng ta.
Hai cháu cùng hỏi bác Thủy:
-“Chúa Giê-su chịu chết trên thập giá từ ngày xưa, đâu có liên quan gì đến mình bây giờ đâu, vậy làm sao mà cứu chuộc mình?
-Các con đã thấy cái chết của Chúa Giê-su thật là rùng rợn phải không? Các con có để ý đến hai kẻ trộm cùng bị đóng đinh với Chúa Giê-su không? Hai người đó bị đóng đinh một cách bắt buộc vì họ đã phạm tội. Còn Chúa Giê-su vô tội, quan Phi-la-tô đã không tìm được lý do nào để có thể kết án Chúa Giê-su. Chúa hy sinh chịu chết một cách đau đớn hết sức, chính vì lòng độc ác của con người. Cũng vì Chúa muốn tỏ cho nhân loại thấy được tình yêu tột đỉnh của Chúa dành cho con người. Khi có ai đó làm cho các con đau đớn vì bị tổn thương, thì Chúa cũng sẽ đau đớn vì Chúa quá yêu các con. Ngược lại, khi các con làm cho người ta đau đớn vì bị tổn thương, thì Chúa cũng sẽ đau đớn như vậy. Chúa là vị Cha chung của hàng tỷ con người, hàng tỷ con người cứ gây tổn hại lẫn nhau, khiến cho nỗi đau của Chúa to lớn biết dường nào! Chúa biết rõ chúng ta đau khổ vì tội lỗi của chúng ta. Chính vì thế mà Chúa muốn cứu thoát chúng ta ra khỏi vòng tội lỗi.
2.000 năm trước, để cứu giúp con người, Chúa đã đi khắp các nẻo đường, giảng dạy cho con người biết sống yêu thương, và biết hy sinh vì người khác... Trong các bài giảng của Chúa, tất cả cũng chỉ nhắm đến hai chữ yêu thương mà thôi. Nhưng người ta đâu có mấy ai chịu nghe và làm theo lời Chúa, vì vậy Chúa đã phải dùng cái chết đau thương, để chứng tỏ cho chúng ta thấy được tình yêu sâu thẳm của Chúa. Nếu Chúa Giê-su chết vì bệnh tật, Chúa đâu diễn tả hết cho các con thấy được khát vọng muốn cứu chuộc các con ra khỏi vòng tội lỗi và thấy được tình yêu của Chúa? Từ cái chết trên thập giá năm xưa, Chúa đã sống lại và ra khỏi mồ, Chúa dặn dò các môn đệ tiếp tục rao giảng Lời Chúa. Chúa ở lại với chúng ta qua hình thức Mình Máu Thánh Chúa, và ban ơn Thánh Thần cho chúng ta. Bằng những phương thức ấy, Chúa tiếp tục cứu chuộc nhân loại qua cái chết trên thập giá, các con ạ!
Chúa ơi, sau khi nghe con giảng giải, hai cháu của con có vẻ hiểu ra được phần nào về tình yêu của Chúa, và cảm thông với cái chết của Chúa. Con hy vọng những cảm xúc đó sẽ ở lại mãi trong tâm hồn thơ ngây của chúng, và giúp chúng biết sống yêu thương hơn.
Lạy Chúa Giê-su! Tiếng rên siết vì đau thương đang lan tràn khắp nơi, con nghe như tiếng rên siết của Chúa trong cuộc khổ nạn năm xưa vọng về... Xin cho nhiều người nghe được tiếng rên siết ấy, để mà nhớ đến Chúa, để mà sống theo Lời Chúa dạy... và trái đất này rồi sẽ có hy vọng, không còn tiếng rên siết vì đau thương nữa, mà chỉ còn những tiếng rên siết vì hạnh phúc thôi, Chúa ơi!
AI LÀ KẺ THẮNG ĐƯỢC THẾ GIAN?
6/1/2012
“Ai là kẻ thắng được thế gian,
nếu không phải là người tin rằng
Đức Giê-su là Con Thiên Chúa ? » (GA I : 5,5)
Hôm nay kỷ niệm 55 năm ngày thành hôn của bố mẹ, anh chị em chúng tôi dâng lễ tạ ơn Chúa vì Chúa đã ban cho gia đình chúng tôi biết bao nhiêu là hồng ân ! Đại gia đình chúng tôi gồm: bố mẹ, mười hai người con kể cả dâu rể, mười hai đứa cháu nội ngoại, một cháu dâu & một cháu rể và hai đứa cháu cố, được quây quần bên nhau đây là một hạnh phúc lớn lao không thể tả xiết! Thật là trùng hợp làm sao, bài đọc trong thánh lễ chiều nay được mở đầu bằng câu:
“Ai là kẻ thắng được thế gian,
nếu không phải là người tin rằng
Đức Giê-su là Con Thiên Chúa ? »
Tôi tự nhủ « Câu Thánh kinh này sao mà ứng nghiệm với bố mẹ mình đến thế ! Bố mẹ mình đã hết lòng tin tưởng vào Chúa Giê-su, tin tưởng vào con Thiên Chúa ! »
Tôi là đứa con được gần gũi với bố mẹ nhiều nhất, tôi khẳng định rằng : Cho dù bao nhiêu gian truân khốn khó trong cuộc đời, bố mẹ tôi luôn đặt hết niềm tin tưởng và lòng tín thác của họ vào Thiên Chúa, và chính nhờ vậy mà bố mẹ tôi có thể vượt qua được biết bao gian nan khốn khó. Những lúc không còn một hạt gạo trong nhà, những năm tháng nuôi hết đứa con này đến đứa con khác trong bệnh viện... mẹ tôi đã nương tựa vào đâu ? Những lúc phải đối diện với những câu hỏi của người đời « Sao nhà ông lại có lắm con bệnh hoạn, mù lòa thế ? », bố tôi đã nương tựa vào đâu ?
Ngày đứa em út tôi bị sốt bại liệt, bác sĩ ở bệnh viện Chợ Quán đã bó tay. Mẹ tôi ra đứng khóc lóc thảm thiết ở trước tượng Đức Mẹ đặt trong khuôn viên của bệnh viện. Bà một mực cậy trông phó thác cho Mẹ Maria. Sáng hôm sau, em trai tôi đã đứng dậy, đi lại bình thường. Bác sĩ điều trị của nó cho rằng, đó là một phép lạ. Vì theo chẩn đoán của bà ấy, đứa em tôi sẽ phải dùng nạng suốt đời, chí ít nó cũng sẽ đi cà khoèo. Mẹ tôi tin rằng chính Đức Mẹ đã thương cứu giúp con trai của bà.
Trong những ngày đầu, khi tôi bước vào làm quen với cuộc sống mù lòa, bố tôi đã kiên nhẫn ngồi đọc cho con gái ông nghe, những cuốn sách nói về tâm linh do chính ông chọn lựa. Những cuốn sách đó đã giúp ích rất nhiều cho tôi về mặt tâm linh, giúp tôi hiểu ra thánh ý Chúa trong cuộc đời mình. Năm nay tuy đã 80 tuổi, ông lại tiếp tục ngồi đọc sách thánh cho đứa con trai lớn, người con thứ hai trong gia đình cũng vừa bị mù. Ông tâm sự với tôi : « Bố không hiểu rõ lắm ý Chúa muốn ở mình điều gì, nhưng bố tin rằng Chúa luôn làm cho mình những điều gì Chúa cho là tốt nhất ! »
55 năm qua, là cả một chặng đường dài, với bao nhiêu là biến cố ! Có những lúc người đời thường gọi là « họa vô đơn chí », bố mẹ tôi vẫn một mực trông cậy vào Chúa. Hai ông bà càng gặp khốn khó, lại càng phó thác nhiều hơn. Tôi chưa hề bao giờ thấy ông bà thoái lòng tin tưởng, cho dẫu gặp nhiều chông gai trắc trở !
Hai ông bà giờ đây đã vào tuổi bát tuần, Chúa ban cho cuộc sống không phải chạy lo cơm áo gạo tiền nữa. Cứ mỗi 3 giờ chiều, tiếng đọc kinh đều đều của bố mẹ tôi lại cất lên. Ông bà đọc hết chuỗi kinh « Lòng thương xót Chúa », đến chuỗi kinh Mân Côi rồi lại đến kinh phụng vụ, cầu nguyện cho con cái, cháu chắt. Tôi cảm thấy hạnh phúc thay cho bố mẹ tôi, sự bình an thanh thản của hai ông bà tỏa ra trong khắp gian nhà. Tôi cảm thấy đúng là bố mẹ tôi đã là những người thắng được thế gian, vì họ đã hết lòng đặt niềm tin vào Thiên Chúa.
Lạy Chúa ! Xin Chúa ban cho gia đình con những ơn thiêng mà bố mẹ con hằng mong mỏi. Xin cho bố mẹ con được nhiều niềm an ủi từ con cháu, để đền bù lại những năm tháng vất vả gian truân của họ. Xin cho anh chị em chúng con biết noi gương bố mẹ mà tiến bước trên đường đời.
Lạy Chúa ! Chúa đã là điểm tựa cho bố mẹ con trong suốt 55 năm qua, xin Chúa luôn là điểm tựa của mỗi người trong gia đình chúng con, Chúa nhé!
“Ai là kẻ thắng được thế gian,
nếu không phải là người tin rằng
Đức Giê-su là Con Thiên Chúa ? » (GA I : 5,5)
Hôm nay kỷ niệm 55 năm ngày thành hôn của bố mẹ, anh chị em chúng tôi dâng lễ tạ ơn Chúa vì Chúa đã ban cho gia đình chúng tôi biết bao nhiêu là hồng ân ! Đại gia đình chúng tôi gồm: bố mẹ, mười hai người con kể cả dâu rể, mười hai đứa cháu nội ngoại, một cháu dâu & một cháu rể và hai đứa cháu cố, được quây quần bên nhau đây là một hạnh phúc lớn lao không thể tả xiết! Thật là trùng hợp làm sao, bài đọc trong thánh lễ chiều nay được mở đầu bằng câu:
“Ai là kẻ thắng được thế gian,
nếu không phải là người tin rằng
Đức Giê-su là Con Thiên Chúa ? »
Tôi tự nhủ « Câu Thánh kinh này sao mà ứng nghiệm với bố mẹ mình đến thế ! Bố mẹ mình đã hết lòng tin tưởng vào Chúa Giê-su, tin tưởng vào con Thiên Chúa ! »
Tôi là đứa con được gần gũi với bố mẹ nhiều nhất, tôi khẳng định rằng : Cho dù bao nhiêu gian truân khốn khó trong cuộc đời, bố mẹ tôi luôn đặt hết niềm tin tưởng và lòng tín thác của họ vào Thiên Chúa, và chính nhờ vậy mà bố mẹ tôi có thể vượt qua được biết bao gian nan khốn khó. Những lúc không còn một hạt gạo trong nhà, những năm tháng nuôi hết đứa con này đến đứa con khác trong bệnh viện... mẹ tôi đã nương tựa vào đâu ? Những lúc phải đối diện với những câu hỏi của người đời « Sao nhà ông lại có lắm con bệnh hoạn, mù lòa thế ? », bố tôi đã nương tựa vào đâu ?
Ngày đứa em út tôi bị sốt bại liệt, bác sĩ ở bệnh viện Chợ Quán đã bó tay. Mẹ tôi ra đứng khóc lóc thảm thiết ở trước tượng Đức Mẹ đặt trong khuôn viên của bệnh viện. Bà một mực cậy trông phó thác cho Mẹ Maria. Sáng hôm sau, em trai tôi đã đứng dậy, đi lại bình thường. Bác sĩ điều trị của nó cho rằng, đó là một phép lạ. Vì theo chẩn đoán của bà ấy, đứa em tôi sẽ phải dùng nạng suốt đời, chí ít nó cũng sẽ đi cà khoèo. Mẹ tôi tin rằng chính Đức Mẹ đã thương cứu giúp con trai của bà.
Trong những ngày đầu, khi tôi bước vào làm quen với cuộc sống mù lòa, bố tôi đã kiên nhẫn ngồi đọc cho con gái ông nghe, những cuốn sách nói về tâm linh do chính ông chọn lựa. Những cuốn sách đó đã giúp ích rất nhiều cho tôi về mặt tâm linh, giúp tôi hiểu ra thánh ý Chúa trong cuộc đời mình. Năm nay tuy đã 80 tuổi, ông lại tiếp tục ngồi đọc sách thánh cho đứa con trai lớn, người con thứ hai trong gia đình cũng vừa bị mù. Ông tâm sự với tôi : « Bố không hiểu rõ lắm ý Chúa muốn ở mình điều gì, nhưng bố tin rằng Chúa luôn làm cho mình những điều gì Chúa cho là tốt nhất ! »
55 năm qua, là cả một chặng đường dài, với bao nhiêu là biến cố ! Có những lúc người đời thường gọi là « họa vô đơn chí », bố mẹ tôi vẫn một mực trông cậy vào Chúa. Hai ông bà càng gặp khốn khó, lại càng phó thác nhiều hơn. Tôi chưa hề bao giờ thấy ông bà thoái lòng tin tưởng, cho dẫu gặp nhiều chông gai trắc trở !
Hai ông bà giờ đây đã vào tuổi bát tuần, Chúa ban cho cuộc sống không phải chạy lo cơm áo gạo tiền nữa. Cứ mỗi 3 giờ chiều, tiếng đọc kinh đều đều của bố mẹ tôi lại cất lên. Ông bà đọc hết chuỗi kinh « Lòng thương xót Chúa », đến chuỗi kinh Mân Côi rồi lại đến kinh phụng vụ, cầu nguyện cho con cái, cháu chắt. Tôi cảm thấy hạnh phúc thay cho bố mẹ tôi, sự bình an thanh thản của hai ông bà tỏa ra trong khắp gian nhà. Tôi cảm thấy đúng là bố mẹ tôi đã là những người thắng được thế gian, vì họ đã hết lòng đặt niềm tin vào Thiên Chúa.
Lạy Chúa ! Xin Chúa ban cho gia đình con những ơn thiêng mà bố mẹ con hằng mong mỏi. Xin cho bố mẹ con được nhiều niềm an ủi từ con cháu, để đền bù lại những năm tháng vất vả gian truân của họ. Xin cho anh chị em chúng con biết noi gương bố mẹ mà tiến bước trên đường đời.
Lạy Chúa ! Chúa đã là điểm tựa cho bố mẹ con trong suốt 55 năm qua, xin Chúa luôn là điểm tựa của mỗi người trong gia đình chúng con, Chúa nhé!
LỄ GIÁNG SINH NĂM 2011
“Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.” (GA: 1, 11-12)
Sáng nay, tôi đã tham dự thánh lễ mừng Chúa Giáng sinh cùng với cộng đoàn người khuyết tật ở Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Khi nghe một em bé khiếm thị đọc Thánh thư, tôi chợt nhớ lại một kỷ niệm đã diễn ra cách đây đúng mười năm về trước. Đó là vào ngày 25/12/2001, cũng tại nhà thờ này, lần đầu tiên tôi được nghe người mù đọc Thánh kinh bằng chữ Braille, sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặt to lớn trong cuộc đời tôi...
Bởi vì, ngay sau đó tôi đã tìm đến Mái ấm Thiên Ân để học chữ Braille và sử dụng computer, và cũng nhờ đó tôi mới tiếp cận với Thánh kinh nhiều hơn... Suốt ba mươi sáu năm trước đó của đời mình, tôi chẳng bao giờ đọc Thánh kinh, mỗi khi tham dự thánh lễ, tôi đã miễn cưỡng nghe người ta đọc Thánh kinh một cách chiếu lệ! Thật sự mà nói, tôi cũng có thuộc lõm bõm vài câu Thánh kinh để làm vốn, chỉ vì những câu đó rất thiết thực cho tôi:
“Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho!”, hoặc
“Hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng...”
Cuộc sống đức tin mà tôi có được trước đó là nhờ ở bố mẹ tôi sống rất kiên vững, chính bố mẹ đã là tấm gương mẫu mực cho tôi về việc sống đạo, chứ còn đọc Thánh kinh thì... bố tôi thường nhắc nhở chúng tôi đọc Phúc âm, nhưng những cuốn Phúc Âm cứ đầy bụi bám... Chính ông mỗi tối bắt chúng tôi phải nghe một đoạn Phúc âm diễn giải trước khi đọc kinh tối rồi mới được đi ngủ...
Thật đúng là:
“Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.:
Mười năm trôi qua, cuộc đời tôi đã thay đổi rất nhiều, đặc biệt, tôi không còn dị ứng với Thánh kinh nữa. Trái lại, những món trước đây tôi rất đam mê như: kiếm hiệp, trinh thám, khoa học viễn tưởng, chính trị... bây giờ không còn mấy hấp dẫn đối với tôi; hàng ngày, tôi dành chút ít thời gian để đọc Lời Chúa và lắng nghe xem Chúa muốn nói với mình điều gì. Nhờ tác dụng của việc đọc Lời Chúa mỗi ngày, tôi tập cho mình có thói quen từ bỏ, tránh đụng vào những món ngày xưa mình từng đam mê, mà ưu tiên cho việc đọc những bài suy niệm và những bài viết về vấn đề tâm linh trên mạng internet. Chính nhờ thế, tôi cảm thấy hứng thú hơn khi đọc Lời Chúa!
Trong những ngày chuẩn bị tâm hồn mừng lễ Giáng sinh hôm nay, tôi đã có được niềm vui, niềm vui “có Chúa ở cùng”. Thật là diễm phúc cho tôi, vì giờ đây tôi tin chắc rằng mình được là con Thiên Chúa:
“Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.
Chúa Hài Đồng Giê-su ơi! Con tin rằng, trong ngày lễ Giáng sinh của mười năm về trước, Chúa Hài Đồng đã thương con mù lòa tăm tối mà đến ở cùng con, để đồng hành với con cho đến tận hôm nay. Con cảm tạ Chúa vì Chúa đã xóa tan đi bóng đêm của cuộc đời con, Chúa đã ban cho con ánh sáng của Chúa, xin cho ánh sáng ấy trong con mãi được tỏa sáng ra bên ngoài.
Con cũng xin Chúa Hài Đồng ban cho những người còn đang mê tối, Chúa hãy giúp họ như Chúa đã từng giúp con, Chúa nhé!
CẦU NGUYỆN VỚI THÁNH NICOLAS
gởi: Ông già Noel
Ông già Noel ơi! Cháu đã có một thời là con nít, dịp lễ Giáng sinh mỗi năm cháu đã từng viết thư cho ông, để kể với ông về những ước mơ trẻ con của mình. Bây giờ cháu đã trưởng thành và được biết: Ông già Noel chính là vị thánh mà hôm nay mọi người nhớ tới trong thánh lễ Mi-sa.
Cháu lại muốn viết thư cho ông như những ngày còn bé. mẹ bảo: “Ông già Noel sẽ giúp con hóa phép cho những ước mơ của con biến thành sự thật.” Tuy bây giờ cháu không còn ngây ngô như ngày xưa nữa, nhưng cháu vẫn tin rằng ông sẽ chẳng ngại khó, kể cả việc phải chui vào ống khói, mà đem đến cho cháu những niềm vui nho nhỏ.
Ước mơ của cháu bây giờ không còn là những món đồ chơi đắt tiền nữa! Cháu chỉ xin ông thương đến biết bao trẻ em trên thế giới, những đứa trẻ đang bị đe dọa bởi rất nhiều nguy cơ có thể dẫn đến sự hư hỏng.
Cháu xin ông hóa phép cho những trò chơi game bạo lực biến thành những trò chơi lành mạnh. Cháu muốn, ông hãy hóa phép cho những cặp bố mẹ thiếu quan tâm đến con cái biến thành những cặp bố mẹ hòa thuận và yêu thương con mình hơn. Cháu muốn, ông hóa phép biến môi trường giáo dục đang bị ô nhiễm trầm trọng trở nên môi trường giáo dục trong sáng cho trẻ em trên đất nước Việt Nam. Cháu muốn, ông hóa phép biến những tép hê-rô-in thành những ổ bánh mì; và những viên thuốc lắc biến thành những viên kẹo cho trẻ em nghèo trên toàn thế giới. Cháu cũng ước rằng, ông sẽ hóa phép cho cõi lòng vị kỷ của trẻ con biến thành những tấm lòng nhân ái...
Ông già Noel ơi! Đêm Giáng sinh hai ông cháu mình cùng cầu nguyện với Chúa Hài Đồng nhé! Ông là vị thánh ở trên trời, cháu tin chắc rằng, ông sẽ đọc lá thư này của cháu và ông sẽ không thể không nói với Chúa Cha về những ước muốn của cháu.
Cháu xin ngừng bút nơi đây, và tặng ông một bài thơ cháu võ vẽ tập viết bằng tiếng Anh khi còn đang học course “Elements of Poetry, trong bài thơ cháu có nhắc đến ông đấy!”
ON SILENT NIGHT
BY Thuy Vu
The winter winds
And snowflakes white
Danced together
On silent night.
A naive child
Smiled in his sleep.
Good Santa Claus
Would visit him
On silent night.
Noel 2006
ĐÊM AN BÌNH
Những ngọn gió mùa đông
Và những bông tuyết trắng
Khiêu vũ điệu sương giăng
Trong đêm thánh vô cùng
Một đứa trẻ hồn nhiên
Mỉm cười trong giấc ngủ
Một ông già tóc bạc
Lục lạc lắc trên tay
Đi vào đêm thinh lặng.
6/12/2011
Ông già Noel ơi! Cháu đã có một thời là con nít, dịp lễ Giáng sinh mỗi năm cháu đã từng viết thư cho ông, để kể với ông về những ước mơ trẻ con của mình. Bây giờ cháu đã trưởng thành và được biết: Ông già Noel chính là vị thánh mà hôm nay mọi người nhớ tới trong thánh lễ Mi-sa.
Cháu lại muốn viết thư cho ông như những ngày còn bé. mẹ bảo: “Ông già Noel sẽ giúp con hóa phép cho những ước mơ của con biến thành sự thật.” Tuy bây giờ cháu không còn ngây ngô như ngày xưa nữa, nhưng cháu vẫn tin rằng ông sẽ chẳng ngại khó, kể cả việc phải chui vào ống khói, mà đem đến cho cháu những niềm vui nho nhỏ.
Ước mơ của cháu bây giờ không còn là những món đồ chơi đắt tiền nữa! Cháu chỉ xin ông thương đến biết bao trẻ em trên thế giới, những đứa trẻ đang bị đe dọa bởi rất nhiều nguy cơ có thể dẫn đến sự hư hỏng.
Cháu xin ông hóa phép cho những trò chơi game bạo lực biến thành những trò chơi lành mạnh. Cháu muốn, ông hãy hóa phép cho những cặp bố mẹ thiếu quan tâm đến con cái biến thành những cặp bố mẹ hòa thuận và yêu thương con mình hơn. Cháu muốn, ông hóa phép biến môi trường giáo dục đang bị ô nhiễm trầm trọng trở nên môi trường giáo dục trong sáng cho trẻ em trên đất nước Việt Nam. Cháu muốn, ông hóa phép biến những tép hê-rô-in thành những ổ bánh mì; và những viên thuốc lắc biến thành những viên kẹo cho trẻ em nghèo trên toàn thế giới. Cháu cũng ước rằng, ông sẽ hóa phép cho cõi lòng vị kỷ của trẻ con biến thành những tấm lòng nhân ái...
Ông già Noel ơi! Đêm Giáng sinh hai ông cháu mình cùng cầu nguyện với Chúa Hài Đồng nhé! Ông là vị thánh ở trên trời, cháu tin chắc rằng, ông sẽ đọc lá thư này của cháu và ông sẽ không thể không nói với Chúa Cha về những ước muốn của cháu.
Cháu xin ngừng bút nơi đây, và tặng ông một bài thơ cháu võ vẽ tập viết bằng tiếng Anh khi còn đang học course “Elements of Poetry, trong bài thơ cháu có nhắc đến ông đấy!”
ON SILENT NIGHT
BY Thuy Vu
The winter winds
And snowflakes white
Danced together
On silent night.
A naive child
Smiled in his sleep.
Good Santa Claus
Would visit him
On silent night.
Noel 2006
ĐÊM AN BÌNH
Những ngọn gió mùa đông
Và những bông tuyết trắng
Khiêu vũ điệu sương giăng
Trong đêm thánh vô cùng
Một đứa trẻ hồn nhiên
Mỉm cười trong giấc ngủ
Một ông già tóc bạc
Lục lạc lắc trên tay
Đi vào đêm thinh lặng.
6/12/2011
Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013
CHÚA GIÊ-SU ĐÃ MỈM CƯỜI VỚI TÔI TRONG LÚC ẤY
4/12/2011
Ông Gio-an Tẩy Giả rao giảng rằng : "Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần." (MC: 1,8)
Mỗi năm, cứ đến mùa Vọng, ta lại bắt gặp hình ảnh ông Gio-an Tẩy-giả, một ngôn sứ đặc biệt khác người vì ăn châu chấu và mật ong rừng, vị ngôn sứ đã trở nên quen thuộc với “tiếng kêu trong hoang địa”. Tại sao thế? Sao Chúa lại sai một ngôn sứ đi vào trong hoang địa để kêu gọi lòng người? Có lẽ vì các ngôn sứ đã kêu gọi đến khản cả cổ ở thành thị đông đúc, nhưng chẳng mấy người nghe, và vì vậy đến lượt ông Gio-an Tẩy-giả, ông phải đi vào hoang địa chăng?
Trước kia, tôi thường tự hỏi: “Chúa đã đến với mình chưa?” Tự hỏi xong rồi thì, cũng chính tôi tự trả lời cho mình bằng cái lắc đầu nhè nhẹ. Đó là vì lúc ấy tôi chẳng hề cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Sau này, nhờ vào niềm tin và sự biết ơn mà tôi đặt vào Thiên Chúa, tôi đã nhận ra những lần Chúa đến với mình: Khi thì nhẹ nhàng như có ai đó rón rén đến sau lưng, khi thì như một cơn gió ùa vào giữa trái tim mình, thổi bùng lên bao nhiêu cảm xúc. Chúa đến với tôi qua những con người bình dị mà tôi gặp gỡ trong đời. Lần gần đây nhất là vào dịp lễ thánh Giê-ra-đô vừa rồi, Chúa đến với tôi mới thật là hồng hào và ấm áp làm sao! Lúc ấy, tôi đang ở trong nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp,, Chúa đến với tôi thật bất ngờ ! Tôi cảm thấy Chúa đang ở rất gần tôi, bên cạnh tôi và cả trong tôi nữa. Tôi hết sức mong muốn chia sẻ với ai đó về điều mình vừa cảm nhận, nhưng vì đang trong thánh lễ nên tôi phải giữ lại những cảm xúc ấy cho riêng mình. Giờ đây, tôi có dịp viết ra để chia sẻ với các bạn về cảm nghiệm tôi đã trải qua trong giờ phút ấy .
Đó là lúc tôi nhận ra Chúa đang ở giữa một cộng đoàn gồm những người khuyết tật.
« Hôm ấy là ngày 13/10/2011, các cha dòng Chúa Cứu Thế tổ chức mừng lễ thánh Giê-ra-đô cho người khuyết tật tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Vì có ý định tham dự buổi lễ này từ mấy ngày trước, nên mới sáng sớm tôi đã phone cho một người bạn để nhờ anh ta làm tài xế, chúng tôi sẽ khởi hành vào lúc 8g30. Khoảng 8g00 tôi bắt đầu đau bụng dữ dội, tôi biết mình không ổn rồi ! Chứng bệnh này đã đeo đuổi tôi từ 20 năm nay, bác sĩ bảo là vì nhu động ruột của tôi co thắt thất thường. kinh nghiệm bản thân cho biết tôi không nên dùng thuốc, vì sau khi dùng thuốc hậu quả còn tồi tệ hơn. Tôi cứ phân vân giữa hai lựa chọn : đi hay không đi ; đi thì sợ nhỡ có chuyện gì, không đi thì tiếc. Mọi người trong gia đình và cả anh bạn đến làm tài xế cho tôi đều khuyên tôi nên ở nhà, nhưng tôi quyết định cứ đi, giao phó mọi sự cho Chúa. Nói thế chứ trên đường đi tôi bối rối lắm, nhiều lúc đã định bảo người bạn chở tôi về nhà, nhưng rồi lại thôi. Cuối cùng, tôi cũng có mặt trong nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đúng vào lúc thánh lễ được bắt đầu. Tôi dâng lễ mà đầu óc phải đối phó với cơn bệnh, nên cảm thấy rất căng thẳng, có lúc tôi chẳng biết linh mục chủ tế đang nói gì nữa. Có lúc tôi đã định bỏ về, nhưng lại tiếc vì trong thánh lễ sẽ có phần xức dầu cho bệnh nhân, nên đã nán lại. Sau cùng, tôi cũng được anh bạn dắt lên gần cung thánh để nhận nghi thức xức dầu.
Tôi còn nhớ như in, sau khi xức dầu cho tôi, vị linh mục nói khẽ « cafe trắng ». Tôi nhận ra ngay vị linh mục đó chính là chah Lê Quang Uy, vì chỉ có cha Uy mới gọi tôi bằng biệt danh đó. Dọc theo lối về chỗ ngồi chỉ khoảng hơn chục mét, tôi bắt gặp nhiều bàn tay chìa ra với mình. Tôi nghe những lời chúc, lời hỏi thăm thật ân tình, và biết rằng đó là những người bạn khuyết tật vận động. Họ phải ngồi trên xe lăn, nhưng qua cái bắt tay của họ, tôi biết họ đang cố nhoài người ra để nắm được bàn tay của tôi. Những bàn tay to lớn sù sì vì phải lăn xe lăn và chống nạng, khiến tôi xúc động và yêu mến họ biết bao. Họ đã dành cho tôi bao tình cảm chân thành. Tôi biết, họ hiểu rằng tôi không nhìn thấy họ, và chỉ bằng cách nhoài người ra bắt tay tôi thì tôi mới nhận biết sự có mặt của họ. Tôi nắm lấy mỗi bàn tay, xiết chặt và mỉm cười với chủ nhân của nó. Dù rất muốn dừng lại thật lâu với mỗi bàn tay đang chìa ra đó, song tôi không thể, vì sợ làm mất trật tự trong buổi lễ.
Về đến chỗ ngồi, đầu óc tôi choáng ngợp bởi một cảm giác ngọt ngào của hạnh phúc. Chợt lóe lên trong tôi như một ánh chớp, Chúa Giê-su mỉm cười với tôi, khuôn mặt Chúa hồng hào, còn lòng tôi thì ấm áp. Run lên vì sung sướng, tôi chợt nhận ra : Chúa đã gọi mình bằng biệt danh « cafe trắng », Chúa bắt tay mình qua những bàn tay của anh chị em xe lăn... Và, Chúa đã theo tôi về đến tận nhà. Chẳng còn chút nào của sự nhăn nhó cho cái cơn đau ban sáng, tôi trở về nhà với nụ cười và những câu nói tươi vui. »
Chúa đã đến với tôi như thế đó ! Chúa ở lại với tôi trong những tình cảm tôi dành cho anh chị em khuyết tật, Chúa ở lại với tôi qua những gì tôi mong muốn cho những người bất hạnh... Nhưng rồi cuộc sống hỗn độn chung quanh đã làm mờ đi hình ảnh Chúa hồng hào và ấm áp trong tôi. Những sự dữ thế gian và những thú vui êm ái của nó khiến tôi rời xa Chúa. Những phong ba bão táp của cuộc đời đã làm cho thuyền đời tôi chòng chành, tôi không biết níu kéo vào đâu mới nhớ đến Chúa và lại đi tìm Ngài.
Chúa đã đến và vẫn ở bên con người. Nhưng con người chẳng nhận ra Chúa... Cho đến khi con người gặp phải tai ương quẫn bách, khi con người ở giữa những sự nghèo hèn bất hạnh, khi con người cô đơn lẻ loi như ở trong hoang địa... con người mới nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúa đã đến, nhưng ta có tỉnh táo để nhận ra và quyết giữ cho được Chúa ở lại với mình hay không? Ta cần có sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, khi Chúa đến, “Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần". thánh Gio-an Tẩy Giả đã rao giảng những lời này, để hướng dẫn chúng ta tìm gặp Chúa và có Chúa ở Cùng.
Nguyện xin Thánh Thần Chúa ban ơn trợ giúp con trong mùa Vọng này, biết dọn đường cho Chúa đến và ở lại trong con. Xin Chúa hướng dẫn con biết đem « niềm vui có Chúa ở cùng » đến với anh chị em của con, Chúa nhé !
TRÔNG ĐỢI
Nhạc và lời: Didier Rimaud – Thể hiện : Lê Anh – Hòa âm: Nguyên Dũng
Ông Gio-an Tẩy Giả rao giảng rằng : "Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần." (MC: 1,8)
Mỗi năm, cứ đến mùa Vọng, ta lại bắt gặp hình ảnh ông Gio-an Tẩy-giả, một ngôn sứ đặc biệt khác người vì ăn châu chấu và mật ong rừng, vị ngôn sứ đã trở nên quen thuộc với “tiếng kêu trong hoang địa”. Tại sao thế? Sao Chúa lại sai một ngôn sứ đi vào trong hoang địa để kêu gọi lòng người? Có lẽ vì các ngôn sứ đã kêu gọi đến khản cả cổ ở thành thị đông đúc, nhưng chẳng mấy người nghe, và vì vậy đến lượt ông Gio-an Tẩy-giả, ông phải đi vào hoang địa chăng?
Trước kia, tôi thường tự hỏi: “Chúa đã đến với mình chưa?” Tự hỏi xong rồi thì, cũng chính tôi tự trả lời cho mình bằng cái lắc đầu nhè nhẹ. Đó là vì lúc ấy tôi chẳng hề cảm nhận được sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời mình. Sau này, nhờ vào niềm tin và sự biết ơn mà tôi đặt vào Thiên Chúa, tôi đã nhận ra những lần Chúa đến với mình: Khi thì nhẹ nhàng như có ai đó rón rén đến sau lưng, khi thì như một cơn gió ùa vào giữa trái tim mình, thổi bùng lên bao nhiêu cảm xúc. Chúa đến với tôi qua những con người bình dị mà tôi gặp gỡ trong đời. Lần gần đây nhất là vào dịp lễ thánh Giê-ra-đô vừa rồi, Chúa đến với tôi mới thật là hồng hào và ấm áp làm sao! Lúc ấy, tôi đang ở trong nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp,, Chúa đến với tôi thật bất ngờ ! Tôi cảm thấy Chúa đang ở rất gần tôi, bên cạnh tôi và cả trong tôi nữa. Tôi hết sức mong muốn chia sẻ với ai đó về điều mình vừa cảm nhận, nhưng vì đang trong thánh lễ nên tôi phải giữ lại những cảm xúc ấy cho riêng mình. Giờ đây, tôi có dịp viết ra để chia sẻ với các bạn về cảm nghiệm tôi đã trải qua trong giờ phút ấy .
Đó là lúc tôi nhận ra Chúa đang ở giữa một cộng đoàn gồm những người khuyết tật.
« Hôm ấy là ngày 13/10/2011, các cha dòng Chúa Cứu Thế tổ chức mừng lễ thánh Giê-ra-đô cho người khuyết tật tại nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Vì có ý định tham dự buổi lễ này từ mấy ngày trước, nên mới sáng sớm tôi đã phone cho một người bạn để nhờ anh ta làm tài xế, chúng tôi sẽ khởi hành vào lúc 8g30. Khoảng 8g00 tôi bắt đầu đau bụng dữ dội, tôi biết mình không ổn rồi ! Chứng bệnh này đã đeo đuổi tôi từ 20 năm nay, bác sĩ bảo là vì nhu động ruột của tôi co thắt thất thường. kinh nghiệm bản thân cho biết tôi không nên dùng thuốc, vì sau khi dùng thuốc hậu quả còn tồi tệ hơn. Tôi cứ phân vân giữa hai lựa chọn : đi hay không đi ; đi thì sợ nhỡ có chuyện gì, không đi thì tiếc. Mọi người trong gia đình và cả anh bạn đến làm tài xế cho tôi đều khuyên tôi nên ở nhà, nhưng tôi quyết định cứ đi, giao phó mọi sự cho Chúa. Nói thế chứ trên đường đi tôi bối rối lắm, nhiều lúc đã định bảo người bạn chở tôi về nhà, nhưng rồi lại thôi. Cuối cùng, tôi cũng có mặt trong nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp đúng vào lúc thánh lễ được bắt đầu. Tôi dâng lễ mà đầu óc phải đối phó với cơn bệnh, nên cảm thấy rất căng thẳng, có lúc tôi chẳng biết linh mục chủ tế đang nói gì nữa. Có lúc tôi đã định bỏ về, nhưng lại tiếc vì trong thánh lễ sẽ có phần xức dầu cho bệnh nhân, nên đã nán lại. Sau cùng, tôi cũng được anh bạn dắt lên gần cung thánh để nhận nghi thức xức dầu.
Tôi còn nhớ như in, sau khi xức dầu cho tôi, vị linh mục nói khẽ « cafe trắng ». Tôi nhận ra ngay vị linh mục đó chính là chah Lê Quang Uy, vì chỉ có cha Uy mới gọi tôi bằng biệt danh đó. Dọc theo lối về chỗ ngồi chỉ khoảng hơn chục mét, tôi bắt gặp nhiều bàn tay chìa ra với mình. Tôi nghe những lời chúc, lời hỏi thăm thật ân tình, và biết rằng đó là những người bạn khuyết tật vận động. Họ phải ngồi trên xe lăn, nhưng qua cái bắt tay của họ, tôi biết họ đang cố nhoài người ra để nắm được bàn tay của tôi. Những bàn tay to lớn sù sì vì phải lăn xe lăn và chống nạng, khiến tôi xúc động và yêu mến họ biết bao. Họ đã dành cho tôi bao tình cảm chân thành. Tôi biết, họ hiểu rằng tôi không nhìn thấy họ, và chỉ bằng cách nhoài người ra bắt tay tôi thì tôi mới nhận biết sự có mặt của họ. Tôi nắm lấy mỗi bàn tay, xiết chặt và mỉm cười với chủ nhân của nó. Dù rất muốn dừng lại thật lâu với mỗi bàn tay đang chìa ra đó, song tôi không thể, vì sợ làm mất trật tự trong buổi lễ.
Về đến chỗ ngồi, đầu óc tôi choáng ngợp bởi một cảm giác ngọt ngào của hạnh phúc. Chợt lóe lên trong tôi như một ánh chớp, Chúa Giê-su mỉm cười với tôi, khuôn mặt Chúa hồng hào, còn lòng tôi thì ấm áp. Run lên vì sung sướng, tôi chợt nhận ra : Chúa đã gọi mình bằng biệt danh « cafe trắng », Chúa bắt tay mình qua những bàn tay của anh chị em xe lăn... Và, Chúa đã theo tôi về đến tận nhà. Chẳng còn chút nào của sự nhăn nhó cho cái cơn đau ban sáng, tôi trở về nhà với nụ cười và những câu nói tươi vui. »
Chúa đã đến với tôi như thế đó ! Chúa ở lại với tôi trong những tình cảm tôi dành cho anh chị em khuyết tật, Chúa ở lại với tôi qua những gì tôi mong muốn cho những người bất hạnh... Nhưng rồi cuộc sống hỗn độn chung quanh đã làm mờ đi hình ảnh Chúa hồng hào và ấm áp trong tôi. Những sự dữ thế gian và những thú vui êm ái của nó khiến tôi rời xa Chúa. Những phong ba bão táp của cuộc đời đã làm cho thuyền đời tôi chòng chành, tôi không biết níu kéo vào đâu mới nhớ đến Chúa và lại đi tìm Ngài.
Chúa đã đến và vẫn ở bên con người. Nhưng con người chẳng nhận ra Chúa... Cho đến khi con người gặp phải tai ương quẫn bách, khi con người ở giữa những sự nghèo hèn bất hạnh, khi con người cô đơn lẻ loi như ở trong hoang địa... con người mới nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa. Chúa đã đến, nhưng ta có tỉnh táo để nhận ra và quyết giữ cho được Chúa ở lại với mình hay không? Ta cần có sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, khi Chúa đến, “Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần". thánh Gio-an Tẩy Giả đã rao giảng những lời này, để hướng dẫn chúng ta tìm gặp Chúa và có Chúa ở Cùng.
Nguyện xin Thánh Thần Chúa ban ơn trợ giúp con trong mùa Vọng này, biết dọn đường cho Chúa đến và ở lại trong con. Xin Chúa hướng dẫn con biết đem « niềm vui có Chúa ở cùng » đến với anh chị em của con, Chúa nhé !
TRÔNG ĐỢI
Nhạc và lời: Didier Rimaud – Thể hiện : Lê Anh – Hòa âm: Nguyên Dũng
HY VỌNG SẼ CÓ “NGÀY CÂY GẬY TRẮNG” Ở VIỆT NAM
Theo ước đoán, cho đến nay cộng đồng người khiếm thị tại Việt Nam đã lên tới con số hơn một triệu người. Với mật độ giao thông như hiện nay, vấn đề quảng bá một tín hiệu an toàn giao thông cho người khiếm thị đến toàn dân Việt là hết sức cần thiết. Vì vậy, một số người có tâm huyết trong cộng đồng người khiếm thị đang tìm cách, để quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng một biểu tượng của người mù, đó là “Cây gậy trắng”. Cây gậy trắng không chỉ giúp người khiếm thị dò đường đi , mà còn biểu thị cho thấy rằng, người đang sử dụng nó là một người khiếm thị. Điều này sẽ khiến người mắt sáng dễ dàng nhận biết, và sẵn sàng nhường đường cho người khiếm thị đó, góp phần giúp cho cả hai được an toàn trong khi giao thông.
Từ giữa thập niên 30 của thế kỷ trước, MỘT SỐ TỔ CHỨC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI mù ở châu Âu và Hoa-kỳ đã làm những cuộc khảo sát, họ rút ra kết luận rằng: Một cây gậy màu trắng sẽ giúp người khiếm thị được người mắt sáng dễ dàng nhận biết trong khi giao thông. Cho đến đầu thập niên 60, cây gậy trắng đã trở thành một biểu tượng quen thuộc của người khiếm thị trên đất Mỹ, nó được mọi công dân Mỹ tôn trọng. Và vì thế, người mù ở Hoa kỳ ít gặp rắc rối hơn chúng tôi trong vấn đề giao thông. Nhiều người mù ở Mỹ đã khẳng định rằng, họ cảm thấy tự tin hơn khi đi lại một mình ngoài đường với “Cây gậy trắng”. Họ đã chọn ngày 15/10 hằng năm là ngày “White-Cane Safety Day”, để nhắc nhở mọi công dân Mỹ tôn trọng biểu tượng này của người mù.
Từ những kinh nghiệm của các nước bạn, chúng tôi cũng mong muốn có được “Ngày cây gậy trắng” ở Việt Nam, nhằm mục đích tuyên truyền đến mọi người dân một biểu tượng để nhận biết người khiếm thị trên đường phố.
Thoạt đầu nghe có vẻ đơn giản, nhưng đi sâu vào tìm hiểu mới biết, bản thân rất nhiều người mù ở ngay TP.Hồ Chí Minh vẫn còn xa lạ với “Cây gậy trắng”. Khi được hỏi “Bạn đang sử dụng gậy đi đường, bạn có biết gậy của bạn màu gì không?”, hầu hết những người mù đi bán dạo ngoài đường phố đều trả lời là không biết. Khi chúng tôi nói về tín hiệu “Cây gậy trắng” và ý nghĩa của nó, những người mắt sáng cũng thừa nhận rằng, đây là lần đầu tiên họ nghe nói.
Chính vì vậy, chúng tôi mong muốn có được sự ủng hộ từ phía các cơ quan truyền thông trong nước, nơi có thể giúp chúng tôi quảng bá biểu tượng này đến mọi người dân một cách nhanh chóng. Chúng tôi hy vọng chính phủ sẽ tích cực giúp đỡ cộng đồng người khiếm thị Việt Nam, chẳng hạn như việc công nhận một ngày đặc biệt, “Ngày Cây gậy trắng để nhắc nhở mọi người dân cùng hợp tác. Trước hết, phải xây dựng ý thức tự bảo vệ mình trong khi đi lại cho người khiếm thị. Song song đó là sự kêu gọi hợp tác của người mắt sáng đối với cộng đồng người khiếm thị. Việc này tuy khó, nhưng nếu được sự quan tâm và ủng hộ nhiệt tình của mọi thành phần trong xã hội, nó sẽ góp phần xóa bỏ mặc cảm tự ty cho người khiếm thị và nâng cao tính tự lập cho họ.
Với mục đích ấy, chúng tôi kêu gọi sự giúp đỡ của các phương tiện truyền thông đại chúng, hy vọng rằng trong thời gian sắp tới, biểu tượng “Cây gậy trắng” sẽ được nhiều người biết đến. Chúng tôi cũng mong ước xa hơn, mong sao các giới chức hữu trách sẽ quan tâm giúp người mù Việt Nam, mỗi năm cũng có được “Ngày Cây gậy trắng” như các công dân Hoa-kỳ đã có. “White-cane Safety Day” xuất hiện ở Hoa-kỳ đã 50 năm, hy vọng trong một ngày gần đây, “Ngày Cây gậy trắng” sẽ đi vào lịch sử của người khiếm thị Việt Nam.
Vũ Thủy
Mái Ấm Thiên Ân
Lạy Chúa! Ngày 14/10 sắp tới đây, sẽ có một cuộc họp báo ngay tại trường mù Nguyễn Đình Chiểu, thầy Phong và một số người có tâm huyết sẽ giới thiệu đến giới truyền thông biểu tượng “CÂY GẬY TRẮNG” của người mù. Xin Chúa giúp cho công việc được thuận lợi, để cộng đồng người khiếm thị Việt Nam có được cái nhìn tôn trọng hơn ngoài xã hội, hầu cuộc sống của họ được thăng tiến, Chúa nhé!
Từ giữa thập niên 30 của thế kỷ trước, MỘT SỐ TỔ CHỨC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI mù ở châu Âu và Hoa-kỳ đã làm những cuộc khảo sát, họ rút ra kết luận rằng: Một cây gậy màu trắng sẽ giúp người khiếm thị được người mắt sáng dễ dàng nhận biết trong khi giao thông. Cho đến đầu thập niên 60, cây gậy trắng đã trở thành một biểu tượng quen thuộc của người khiếm thị trên đất Mỹ, nó được mọi công dân Mỹ tôn trọng. Và vì thế, người mù ở Hoa kỳ ít gặp rắc rối hơn chúng tôi trong vấn đề giao thông. Nhiều người mù ở Mỹ đã khẳng định rằng, họ cảm thấy tự tin hơn khi đi lại một mình ngoài đường với “Cây gậy trắng”. Họ đã chọn ngày 15/10 hằng năm là ngày “White-Cane Safety Day”, để nhắc nhở mọi công dân Mỹ tôn trọng biểu tượng này của người mù.
Từ những kinh nghiệm của các nước bạn, chúng tôi cũng mong muốn có được “Ngày cây gậy trắng” ở Việt Nam, nhằm mục đích tuyên truyền đến mọi người dân một biểu tượng để nhận biết người khiếm thị trên đường phố.
Thoạt đầu nghe có vẻ đơn giản, nhưng đi sâu vào tìm hiểu mới biết, bản thân rất nhiều người mù ở ngay TP.Hồ Chí Minh vẫn còn xa lạ với “Cây gậy trắng”. Khi được hỏi “Bạn đang sử dụng gậy đi đường, bạn có biết gậy của bạn màu gì không?”, hầu hết những người mù đi bán dạo ngoài đường phố đều trả lời là không biết. Khi chúng tôi nói về tín hiệu “Cây gậy trắng” và ý nghĩa của nó, những người mắt sáng cũng thừa nhận rằng, đây là lần đầu tiên họ nghe nói.
Chính vì vậy, chúng tôi mong muốn có được sự ủng hộ từ phía các cơ quan truyền thông trong nước, nơi có thể giúp chúng tôi quảng bá biểu tượng này đến mọi người dân một cách nhanh chóng. Chúng tôi hy vọng chính phủ sẽ tích cực giúp đỡ cộng đồng người khiếm thị Việt Nam, chẳng hạn như việc công nhận một ngày đặc biệt, “Ngày Cây gậy trắng để nhắc nhở mọi người dân cùng hợp tác. Trước hết, phải xây dựng ý thức tự bảo vệ mình trong khi đi lại cho người khiếm thị. Song song đó là sự kêu gọi hợp tác của người mắt sáng đối với cộng đồng người khiếm thị. Việc này tuy khó, nhưng nếu được sự quan tâm và ủng hộ nhiệt tình của mọi thành phần trong xã hội, nó sẽ góp phần xóa bỏ mặc cảm tự ty cho người khiếm thị và nâng cao tính tự lập cho họ.
Với mục đích ấy, chúng tôi kêu gọi sự giúp đỡ của các phương tiện truyền thông đại chúng, hy vọng rằng trong thời gian sắp tới, biểu tượng “Cây gậy trắng” sẽ được nhiều người biết đến. Chúng tôi cũng mong ước xa hơn, mong sao các giới chức hữu trách sẽ quan tâm giúp người mù Việt Nam, mỗi năm cũng có được “Ngày Cây gậy trắng” như các công dân Hoa-kỳ đã có. “White-cane Safety Day” xuất hiện ở Hoa-kỳ đã 50 năm, hy vọng trong một ngày gần đây, “Ngày Cây gậy trắng” sẽ đi vào lịch sử của người khiếm thị Việt Nam.
Vũ Thủy
Mái Ấm Thiên Ân
Lạy Chúa! Ngày 14/10 sắp tới đây, sẽ có một cuộc họp báo ngay tại trường mù Nguyễn Đình Chiểu, thầy Phong và một số người có tâm huyết sẽ giới thiệu đến giới truyền thông biểu tượng “CÂY GẬY TRẮNG” của người mù. Xin Chúa giúp cho công việc được thuận lợi, để cộng đồng người khiếm thị Việt Nam có được cái nhìn tôn trọng hơn ngoài xã hội, hầu cuộc sống của họ được thăng tiến, Chúa nhé!
THƯ GỞI CHỊ TÊ-RÊ-SA
1/10/2011
Chị Tê-rê-sa quý mến;
Em viết thư này cho chị, để giãi bày những điều em vẫn trăn trở trong lòng từ bấy lâu nay.
Chị ơi ! Chị đã trải qua những năm tháng sống ở trần gian, hẳn chị cũng biết trần gian là như thế nào rồi? Có lúc em đã nhìn ngắm chị qua phút chiêm niệm, và thấy rằng làm thánh theo đường lối của chị thì thật là đơn giản. Song, đối với em, bản tính vốn ương ngạnh lại chảnh chọe nữa, việc đi theo đường lối của chị cho đến cùng thì cực kỳ khó khăn ! Em cũng có thử mấy lần rồi đấy chứ, nhưng lại bỏ cuộc...
Em rất muốn có được tâm hồn trẻ thơ và tín thác mọi sự hoàn toàn trong tay Chúa. Em muốn lúc nào cũng nép mình trong vòng tay nhân từ của Chúa. Nhưng chị biết không, em khó mà có tâm hồn nhỏ bé như chị được lắm ! Có lẽ vì từ bé, em đã sân si tính toán nên em đã bị già trước tuổi. Em có 7 anh chị em tất cả, em là đứa con thứ tư trong gia đình, thế mà có người vào nhà tưởng em là chị Hai cơ đấy! Lúc mới học lớp Hai, em đã làm kinh doanh rồi. Hồi ấy, em lục lọi đọc sách tập đọc lớp Bốn, lớp Năm, thấy có những chuyện hay hay, liền để bụng copy... Sau đó, em đã làm những cuốn tập nhỏ bằng nửa bàn tay của mình, rồi viết vào đó những câu chuyện bằng bút chì, thế là em đã có một tủ sách tí hon để cho mướn. Mỗi lượt mướn sách truyện của em, mấy đứa bạn phải trả cho em 2 sợi cao su xanh đỏ. Những sợi cao su ấy em đã đan thành dây để chơi nhảy dây mà không phải xin tiền mẹ mua... Nói tóm lại, tuổi em lớn dần, thì sự tính toán kinh doanh của em cũng lớn dần. Em lười đọc sách giáo lý và Kinh Thánh lắm. Cũng may sao em lại được đọc những tác phẩm có giá trị như Đông Châu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí, Thủy Hử... những cuốn sách đó em đã đọc khi mới 11, 12 tuổi... Chính nhờ vậy em đã học được các chữ lễ, nghĩa, tín, dũng... Và cũng là Chúa đã thương em mà xô đẩy em vào học ngành Sư phạm. Chứ em đã thi vào trường Tài Chính Kế Toán rồi đấy. Nhưng có cô bạn rủ đi học Sư phạm, đi cho vui vì chiều lòng người bạn. Sự đời lại diễn ra cũng không như em nghĩ, em sau đó đi dạy học còn người bạn ấy thì lại không...
Chị ơi, em lại lan man mất rồi!
Mục đích em viết thư này là để kể cho chị về cái tật kén ăn của mình. Từ nhỏ em đã khó khăn trong việc ăn uống. Em tuy không đòi hỏi ăn những thức ăn ngon và mắc tiền, nhưng lại hay cằn nhằn vì món này sao lại bỏ hành... món kia có mùi mước mắm... món nọ có nhiều mỡ... Món này ăn phải thật nóng, món kia không được hâm lại, cứ để nguội... chắc vua Càn Long cũng không khó tính, khó nết trong ăn uống như em chị ạ! Đã mấy lần em bắt chước chị, cố gắng im lặng nuốt những món ăn đó như uống thuốc độc, nhưng rồi cuối cùng cũng phải cằn nhằn vài 3 câu mới xong! Chị bảo em phải làm sao đây?
Em thấy chị đã vượt thắng được bản thân vì chị đã hết lòng yêu mến Chúa, còn em nói yêu Chúa mà chẳng hết lòng. Em vẫn cứ chiều theo sở thích của mình, để mặc cho Chúa buồn chị ạ!
Chị ơi! Chị là Thánh Quan Thầy của các bệnh nhân, chị cũng biết em là một bệnh nhân mãn tính... Đã ba mươi năm nay, em nhờ bám vào Thập Tự Chúa Ki-tô mà chịu đựng được những cơn đau của bệnh tật, nhưng cứ khỏe lên lại quên mất Chúa! Em thấy chị đã dâng hết những đau đớn bệnh tật của chị lên cho Chúa, để cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo và cho mọi người. Chị đã dâng những đau khổ, oan ức của mình vì lòng yêu mến Chúa... Còn em đã chẳng biết tận dụng những cơ hội ấy, thật là đáng tiếc chị nhỉ!
Em thấy chị đã để tâm làm những việc nhỏ nhặt, tầm thường vì lòng yêu mến Chúa... Còn em lại chê việc nhỏ không làm, để rồi cũng chưa bao giờ làm nổi việc gì lớn... Bây giờ em sẽ bắt chước chị làm những việc nhỏ nhặt vì yêu mến Chúa... chắc là em sẽ làm được chị ạ! Nhưng còn việc bắt chước chị hãm mình hy sinh, không cằn nhằn về việc ăn uống thì em thấy khó quá, chị giúp em với nhé!
Thư đã dài rồi, em đi ngủ đây! Ngày mai, em có nhiều việc phải đi và có nhiều người phải gặp gỡ... Em xin chị nhắc nhở em luôn nở nụ cười tươi vui để đem niềm vui có Chúa đến cho mọi người, chị nhé!
See you later,
Em gái của chị,
Thuy
Chị Tê-rê-sa quý mến;
Em viết thư này cho chị, để giãi bày những điều em vẫn trăn trở trong lòng từ bấy lâu nay.
Chị ơi ! Chị đã trải qua những năm tháng sống ở trần gian, hẳn chị cũng biết trần gian là như thế nào rồi? Có lúc em đã nhìn ngắm chị qua phút chiêm niệm, và thấy rằng làm thánh theo đường lối của chị thì thật là đơn giản. Song, đối với em, bản tính vốn ương ngạnh lại chảnh chọe nữa, việc đi theo đường lối của chị cho đến cùng thì cực kỳ khó khăn ! Em cũng có thử mấy lần rồi đấy chứ, nhưng lại bỏ cuộc...
Em rất muốn có được tâm hồn trẻ thơ và tín thác mọi sự hoàn toàn trong tay Chúa. Em muốn lúc nào cũng nép mình trong vòng tay nhân từ của Chúa. Nhưng chị biết không, em khó mà có tâm hồn nhỏ bé như chị được lắm ! Có lẽ vì từ bé, em đã sân si tính toán nên em đã bị già trước tuổi. Em có 7 anh chị em tất cả, em là đứa con thứ tư trong gia đình, thế mà có người vào nhà tưởng em là chị Hai cơ đấy! Lúc mới học lớp Hai, em đã làm kinh doanh rồi. Hồi ấy, em lục lọi đọc sách tập đọc lớp Bốn, lớp Năm, thấy có những chuyện hay hay, liền để bụng copy... Sau đó, em đã làm những cuốn tập nhỏ bằng nửa bàn tay của mình, rồi viết vào đó những câu chuyện bằng bút chì, thế là em đã có một tủ sách tí hon để cho mướn. Mỗi lượt mướn sách truyện của em, mấy đứa bạn phải trả cho em 2 sợi cao su xanh đỏ. Những sợi cao su ấy em đã đan thành dây để chơi nhảy dây mà không phải xin tiền mẹ mua... Nói tóm lại, tuổi em lớn dần, thì sự tính toán kinh doanh của em cũng lớn dần. Em lười đọc sách giáo lý và Kinh Thánh lắm. Cũng may sao em lại được đọc những tác phẩm có giá trị như Đông Châu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí, Thủy Hử... những cuốn sách đó em đã đọc khi mới 11, 12 tuổi... Chính nhờ vậy em đã học được các chữ lễ, nghĩa, tín, dũng... Và cũng là Chúa đã thương em mà xô đẩy em vào học ngành Sư phạm. Chứ em đã thi vào trường Tài Chính Kế Toán rồi đấy. Nhưng có cô bạn rủ đi học Sư phạm, đi cho vui vì chiều lòng người bạn. Sự đời lại diễn ra cũng không như em nghĩ, em sau đó đi dạy học còn người bạn ấy thì lại không...
Chị ơi, em lại lan man mất rồi!
Mục đích em viết thư này là để kể cho chị về cái tật kén ăn của mình. Từ nhỏ em đã khó khăn trong việc ăn uống. Em tuy không đòi hỏi ăn những thức ăn ngon và mắc tiền, nhưng lại hay cằn nhằn vì món này sao lại bỏ hành... món kia có mùi mước mắm... món nọ có nhiều mỡ... Món này ăn phải thật nóng, món kia không được hâm lại, cứ để nguội... chắc vua Càn Long cũng không khó tính, khó nết trong ăn uống như em chị ạ! Đã mấy lần em bắt chước chị, cố gắng im lặng nuốt những món ăn đó như uống thuốc độc, nhưng rồi cuối cùng cũng phải cằn nhằn vài 3 câu mới xong! Chị bảo em phải làm sao đây?
Em thấy chị đã vượt thắng được bản thân vì chị đã hết lòng yêu mến Chúa, còn em nói yêu Chúa mà chẳng hết lòng. Em vẫn cứ chiều theo sở thích của mình, để mặc cho Chúa buồn chị ạ!
Chị ơi! Chị là Thánh Quan Thầy của các bệnh nhân, chị cũng biết em là một bệnh nhân mãn tính... Đã ba mươi năm nay, em nhờ bám vào Thập Tự Chúa Ki-tô mà chịu đựng được những cơn đau của bệnh tật, nhưng cứ khỏe lên lại quên mất Chúa! Em thấy chị đã dâng hết những đau đớn bệnh tật của chị lên cho Chúa, để cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo và cho mọi người. Chị đã dâng những đau khổ, oan ức của mình vì lòng yêu mến Chúa... Còn em đã chẳng biết tận dụng những cơ hội ấy, thật là đáng tiếc chị nhỉ!
Em thấy chị đã để tâm làm những việc nhỏ nhặt, tầm thường vì lòng yêu mến Chúa... Còn em lại chê việc nhỏ không làm, để rồi cũng chưa bao giờ làm nổi việc gì lớn... Bây giờ em sẽ bắt chước chị làm những việc nhỏ nhặt vì yêu mến Chúa... chắc là em sẽ làm được chị ạ! Nhưng còn việc bắt chước chị hãm mình hy sinh, không cằn nhằn về việc ăn uống thì em thấy khó quá, chị giúp em với nhé!
Thư đã dài rồi, em đi ngủ đây! Ngày mai, em có nhiều việc phải đi và có nhiều người phải gặp gỡ... Em xin chị nhắc nhở em luôn nở nụ cười tươi vui để đem niềm vui có Chúa đến cho mọi người, chị nhé!
See you later,
Em gái của chị,
Thuy
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)