Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

TRẢI NGHIỆM CỦA MỘT XÁC ƯỚP AI_CẬP

  Bạn đã bao giờ được nghe một xác chết ngâm thơ chưa? Vâng, đấy chính là tôi, một TRONG NHỮNG người xung phong làm xác CHẾT trong trò chơi có cái tên rất ấn tượng: "XÁC ƯỚP AI_CẬP".
  Với nhiều sự quan tâm thương yêu giúp đỡ, đặc biệt là của Cha linh hướng, anh chị em trong Huynh Đoàn Khuyết Tật Kitô chúng tôi lại có dịp được hành hương về nhà thờ Đức Mẹ Bãi Dâu. Lần này chúng tôi có thêm 3 thầy dòng Đa Minh đi theo chăm sóc. Đặc biệt là thầy Hiệp ăn nói có duyên và hài hước, chính thầy đã đóng vai trò MC trong cuộc chơi ấy.
Sau khi đã tắm biển rất sảng khoái, chúng tôi tề tựu trên bãi biển để tham dự các trò chơi. Nắng nhè nhẹ sưởi ấm chúng tôi và gió hây hây thổi làm khô dần những mái đầu ướt sũng. Tôi đội một chiếc nón rộng vành với mái tóc ướt bết lại từng cọng như những chiếc đũa cong queo, trông tôi lúc ấy chắc là kỳ dị lắm! Chúng tôi được chia thành 5 tổ thi đua, Thầy Hiệp vừa phổ biến xong những nguyên tắc của cuộc chơi tôi đã xung phong làm xác ướp đầu tiên. Tôi được dẫn đến ngồi vào một chiếc ghế, rồi đặt hai bàn tay ngay ngắn trên đùi chờ đợi các bạn trong tổ 1 đến thực hiện việc liệm xác. Mỗi đội được cấp phát 4 cuộn băng giấy vệ sinh để làm vải liệm. Khi các bạn tôi đã cuốn sơ một vòng chung quanh tôi từ đầu đến chân, lúc ấy tôi bắt đầu cảm thấy ngứa ngáy ở mũi, định giơ tay lên gãi chợt nhận thấy hai bàn tay mình đã bị quấn chặt dưới lớp vải liệm, tôi mới nhớ mình đang đóng vai một xác chết. Thật là may mắn, Tôi chỉ phải chịu đựng sự ngứa ngáy ấy trong một lúc vì  thầy Hiệp đã kịp nhắc những người đang cuốn băng phải chừa lỗ mũi để thở. Thế là tôi thoát nạn! Tôi vẫn nghe thấy tiếng thầy Hiệp dẫn chương trình qua lớp vải liệm, không khí trở nên hồi hộp gấp gáp vì tổ 2 được thầy khen là xác ướp đẹp và họ đã sắp hoàn thành. Cuối cùng tổ 1 của tôi cũng xong trước khi có tiếng tù và nổi lên báo hiệu hết giờ thi.
  Xác ướp của tổ 2 được chấm là đẹp nhất. Sau đó thầy Hiệp đến bên lay mạnh vai tôi, gõ nhẹ lên đầu lên mũi tôi, nhưng tôi không phản ứng lại đúng như một xác chết. Thế là xác ướp của tổ 1 được chấm Giải "xác ướp trang nghiêm". . . Trong lúc đó tôi chợt cảm thấy sự bất lực của một xác chết thật là kỳ lạ! Tiếng cười nói huyên náo dường như nhạt nhòe dần, thân thể tôi cứng đờ, Tôi tưởng tượng mình đã chết và linh hồn ra khỏi xác. Lúc ấy linh hồn sẽ ra sao? Câu hỏi này không ngờ tôi đã tìm ra đáp án chỉ vì tôi chợt hứng chí muốn đọc bài thơ "Để Ngài muốn" cho mọi người xung quanh tôi trên bãi biển cùng nghe. Qua lớp giấy dùng làm vải liệm tôi gọi một người bạn bảo:
  _Cho chị mượn cái Micro để chị đọc thơ!
  Một người đến gần, gí micro sát vào miệng tôi và tôi bắt đầu đọc qua lần vải liệm:

ĐỂ NGÀI MUỐN

Nếu Ngài cho con nhìn lại cuộc đời
Con xin được nhìn thấy cả trái đất bình yên
Nhìn thấy muộn phiền rời xa người đau khổ
Nhìn thấy em thơ má phính môi hồng
Nhìn thấy ruộng đồng cứ hằng năm xanh tốt
Nhìn thấy bầu trời với tầng ô-zôn lành lặn
Nhìn thấy biển mặn mà hiền hòa đầy tôm cá
Nhìn thấy Người công nhân thong thả chiều tan ca
Nhìn thấy lòng người mở ra đầy thân thiện
Nhìn thấy ngày mai hiện ra từ hôm nay hạnh phúc. . .

Nếu Ngài muốn con khép mắt lại vì cuộc đời
Con Nguyện một lòng vâng theo thánh ý!

Đọc xong bài thơ, tôi cảm thấy lòng rất thanh thản. Tôi nghĩ về cảnh lâm chung khi linh hồn mình ra khỏi xác; nếu lúc ấy tôi vẫn còn đọc những bài thơ viết với Chúa, về Chúa, trong Chúa và cho Chúa thì chắc hẳn linh hồn tôi sẽ nhẹ nhàng như cánh chim bay lên tới thiên đường của Ngài. Còn nếu. . . linh hồn tôi không còn nghĩ về Chúa nữa thì. . . lúc ấy làm sao linh hồn có thể thanh thản bay lên với Chúa được?
  Lạy Chúa, xin cho con được sống mãi những phút giây làm "xác ướp Ai-cập" này!

  Nhờ có những phút giây giả làm xác ướp Ai-cập mà con lại có thi hứng viết tặng Chúa bài thơ: PÚT THĂNG HOA

PHÚT THĂNG HOA

Linh hồn tôi
Vừa rời khỏi xác
Nơi cõi thác,
Môi tôi lẩm nhẩm những vần thơ
Ca ngợi Chúa
Đấng toàn năng tuyệt đối
Hồn tôi lai láng những vần thơ

Giữa khi họ,
Bọc xác tôi trong vải liệm
Cái xác đã cứng đờ
Linh hồn tôi chờ tiếp kiến Thánh nhan
Can đảm lên
Đừng sợ tiến gần nhan thánh Chúa
Chắc Chúa nghe
Những vần thơ bé nhỏ
Những vần thơ bay bổng giữa thiên cung
Nói cùng Chúa, về Chúa và cho Chúa
Qua những vần thơ như hơi thở của tôi

Linh hồn tôi
Vừa rời khỏi xác
Nhác trông lên
Tôi thấy Chúa từ bi thương xót
Người đón tôi tại Cửa Thiên Đường

7/11/2010 

BỨC TƯỢNG NGƯỜI MÙ


22/10/2010 Chiều nay, tôi đang lang thang trên website Dũng lạc thì tình cờ gặp được tiêu đề “BỨC TƯỢNG NGƯỜI MÙ” trong mục LẼ SỐNG THÁNG MƯỜI của Đài Chân Lý Á Châu.
  Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ là một người nào đó bị mù, sau khi được nhìn thấy ánh sáng trở lại đã dựng nên bức tượng này để tạ ơn Đức Mẹ ở Lộ Đức. Tôi thầm cảm tạ Mẹ vì Mẹ đã chữa tôi không phải sự mù lòa thể lý, mà Mẹ đã thương ban cho tôi ánh sáng đức tin. Tò mò, tôi đọc tiếp, thì ra tác giả nói về một phụ nữ quý phái đã nhận lại được ánh sáng đức tin. Để ghi nhớ điều đó, phụ nữ ấy đã cho dựng lên bức tượng này ở ngay trung tâm hành hương Lộ Đức. Bỗng nhiên tôi cảm thấy trường hợp của người phụ nữ kia có phần giống như trường hợp của tôi. Chỉ khác là tôi không dựng một bức tượng nào cả, tôi muốn mình trở thành một nhân chứng sống cho những ai đang kêu cầu Mẹ. . .

  Mẹ ơi, con không phải lặn lội đến tận Lộ Đức xa xôi, con chỉ nằm trên giường bệnh với chuỗi kinh Mân Côi nhỏ bé, Mẹ cũng đã cho con được ơn cả thể ấy. Con viết những dòng tâm sự này để một lần nữa cảm tạ Mẹ. Và cũng để nói một điều rằng:
  -Con thà nhận ánh sáng đức tin chứ không chọn được chữa lành căn bệnh mù lòa về thể lý!

Con xin tặng Mẹ bài thơ:
ĐÓA HỒNG GAI DÂNG MẸ

Mẹ! Tháng Năm này con dâng lên Mẹ
Một đóa hồng đã úa đã tàn phai,
Vì cơn bệnh hiểm nghèo đã lấy đi của con đôi mắt.
Và đôi mắt ân cần của Mẹ
Đã giúp con lần đi trong bóng tối.

Tháng Năm này con xin dâng lên Mẹ
Một Đóa hồng trổ đầy gai nhức nhối
trổ những lời gây bức bối giữa nhân gian,
Vì lưỡi con là dao, là mác.
Con dâng Mẹ lòng buồn đau tan tác
Ôi, tay Mẹ đón lấy gai sầu muộn
Rỏ máu đào nhuộm thắm trái tim con.

Mẹ! Tháng Năm này con dâng lên Mẹ
Một đóa hồng biểu tượng của Tình Yêu
Tìm yêu Chúa qua con người trần tục
Con chắc rằng Mẹ vui sướng hơn con
Vì con Mẹ hướng theo lời Chúa dạy.

Tháng Năm này con xin dâng lên Mẹ
Một đóa hồng đỏ thắm máu Phục Sinh,
Vì đóa hồng đầy gai và mục nát
Lại bừng lên khao khát tỏa hương thầm.
Con muốn ngày con đến cõi thiên thu
con sẽ là đóa hồng gai duyên dáng
trong vườn hoa của Mẹ nơi Thiên Đàng vĩnh cửu.

                                                13. 5. 2007 

CHÚA ĐÃ CHẲNG BỎ VỀ TRỜI


“khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc” (LC: 14, 13-14)

Đọc đoạn Tin Mừng hôm nay, tôi nhớ lại chuyến du lịch Nha Trang mà tôi được tham dự cách đây đã hơn 3 năm cùng với Huynh Đoàn khuyết tật Ki-tô Vua. Nếu như không có tình yêu thương của các cha dòng Đa-minh, những người què quặt, đui mù như chúng tôi chẳng bao giờ có thể đi đến được những nơi ấy. Chuyến đi đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, đặc biệt là cảm nghiệm của tôi về sự hiện diện của Thiên Chúa. “Chúa đã chẳng bỏ về trời”, Chúa vẫn hiện diện giữa chúng tôi qua những bàn tay yêu thương của con người trần thế.

  Lạy Chúa, xin Chúa trả công bội hậu cho những ai đã hết lòng yêu thương những kẻ tàn tật, què quặt, đui mù như chúng con!

            CHÚA ĐÃ CHẲNG BỎ VỀ TRỜI

Ngày 3 tháng 7 vừa rồi, Huynh Đoàn khuyết tật Ki Tô may mắn được cha Linh hướng (cha Viễn) cùng với một số ân nhân tổ chức cho một chuyến đi nghỉ mát ở Nha Trang. Tôi là một trong những thành viên của Huynh Đoàn nên cũng được hưởng niềm vui ấy. Đoàn người tham gia có khoảng 40 người khuyết tật vận động gồm cả xe lăn và chống nạng, 8 người mù,
2 người thiểu năng trí não và 1 người câm điếc; còn lại là những người thân và nhóm tình nguyện viên.
Chuyến đi chơi đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc và tôi không thể không chia sẻ cho ai đó về những trải nghiệm của tôi sau chuyến đi này. Ấn tượng nhất đối với tôi là cuộc thăm viếng đảo Tiên, chúng tôi đã biết đây là một việc rất gay go và nguy hiểm. Cha Viễn, chúng tôi thường gọi thân mật là bố Viễn, tỏ ra rất lo lắng; có lẽ bố sợ có đứa con nào của bố rơi tõm xuống biển mất chăng?
Tôi (một người mù) thì đơn giản chỉ cần một người dắt xuống tàu. Nhưng còn những anh chị em bại liệt thì rất khó khăn, mỗi người phải có một cách riêng để đưa xuống tàu. Có những trường hợp phải bốn người mới đưa được một người khuyết tật xuống tàu, có những tình huống xảy ra rất nguy hiểm khiến mấy chú mấy tình nguyện viên và bố Viễn phải thót tim. Tôi đứng trên lan can nhìn xuống cảnh những tình nguyện viên đang vất vả tìm cách xoay sở đưa những người khuyết tật cuối cùng trên tàu lên bờ, trong khi con tàu vẫn lắc lư vì những đợt sóng liên tục đập vào hai bên mạn tàu. một người bạn đứng bên cạnh tả cho tôi cảnh tượng ở cầu tàu và xuýt xoa:
_Lạy Chúa tôi! Lạy Chúa tôi!  Thương lắm chị Thủy ơi!
Tôi hỏi:
_Có gì xảy ra vậy?
Người bạn đáp:
_Hai người bên này cầm chân thằng Phú hai người bên kia đỡ cái đầu và vai. Đức Minh cũng đang đung đưa giữa những cánh tay của mấy tình nguyện viên, thương lắm chị Thủy ơi!
Nước mắt tôi trào ra, cùng lúc ấy một cảm xúc kỳ lạ trào dâng lên trong tôi. Mặc dù tôi không thấy gì, nhưng tôi hình dung ra cái xộc xệch lôi thôi của anh chị em tôi trong những cánh tay, những bờ vai của các tình nguyện viên trên cầu tàu đang lắc lư kia là một bức tranh thật đẹp về tình yêu tận tụy. Những tình nguyện viên đã được tôi báo trước là họ sẽ phải vất vả và khổ cực nhưng họ vẫn vui vẻ nhận lời mời đi trong chuyến đi này.
Những con người khuyết tật như chúng tôi trong ánh mắt của mọi người có lẽ là hình ảnh của một con người ngồi thu lu trong một góc nhà. Nhưng không chúng tôi không chịu buông xuôi cho số phận hẩm hiu, chúng tôi vẫn có ước ao được đến những nơi mọi người có thể đến, cảm nhận những gì một người bình thường có thể cảm nhận. Tôi còn nhớ, khi lên đảo Tiên cha Viễn bảo tôi:
_Chị Thủy thì không nhìn thấy cảnh gì hơi uổng nhỉ?
Tôi đáp:
_Không, thưa cha, con vẫn có thể cảm nhận được cảm giác dập dềnh trên biển và cảm nhận được bãi tắm ở đảo Tiên khác với bãi tắm ở Dốc Lết chứ! Đây là lần đầu tiên con bước chân xuống một chiếc tàu, thật là thú vị!
Khi vừa lên đảo Tiên có mấy người nói đùa:
_Lên đảo Tiên sao chẳng thấy tiên mà chỉ thấy cuội!
Phải, chẳng thấy tiên đâu nhưng tôi đã thấy Chúa hiện diện ở quanh tôi. Một cảm nghiệm đã có trong tôi, đó là Chúa đã hiện diện ở giữa chúng tôi khi tình yêu đang được trao cho nhau qua những con người trần thế. Cảm nghiệm này khiến tôi không thể không chia sẻ ngay khi lên xe trở về phòng trọ. Tôi thay mặt cho anh chị em trong Huynh Đoàn tỏ lòng biết ơn đến các tình nguyện viên thì họ trả lời tôi bằng bài hát "Phục vụ là cho đi"; tiếng hát của họ át cả tiếng còi xe khi mà chỉ ít phút trước đây họ vẫn còn thở dồn dập vì mệt và đói sau khi phục vụ chúng tôi. Tôi lắng nghe tiếng hát và cảm thấy không gian tràn ngập tình yêu thương.
Chưa hết đâu! Qua sự giới thiệu của anh cao Huy Hoàng, trong ngày trở về chúng tôi còn được phép của cha sở xứ Hiệp Đức cho cử hành lễ Tạ ơn tại đó. Ở đây chúng tôi cũng nhận được biết bao yêu thương. Trong chuyến đi của huynh Đoàn cũng có một chuyện đáng tiếc xảy ra, một người chị em của chúng tôi phải cấp cứu tại bệnh viện. Vì thế chúng tôi đã phải chờ đợi tin tức của bệnh viện và xuất phát từ Nha Trang trễ hơn dự tính gần 3 tiếng đồng hồ. Và cũng vì vậy mà thời điểm làm lễ cũng phải dời lại. Chúng tôi thật xúc động khi tiến vào giáo xứ Hiệp Đức trong cảnh trời mưa và chậm trễ như thế mà cha xứ và anh chị em trong ban Thánh ca, anh chị em trong ban phục vụ vẫn kiên nhẫn chờ đợi  Họ đã tiếp đón chúng tôi rất niềm nở, chu đáo. Tôi rời giáo xứ Hiệp Đức với tâm trạng lâng lâng và lời hứa chắc chắn sẽ gởi tặng cha sở một bài thơ viết về chuyến đi này.
Và tôi đã viết bài thơ "Thăm đảo Tiên" với hai mục đích. Thứ nhất là để chia sẻ cảm nghiệm về sự hiện diện của Chúa qua tình yêu giữa con người với con người. Thứ hai, tôi muốn Xóa đi cái vẻ xốc xếch lôi thôi của những người khuyết tật phải mang nạng gỗ trong ánh mắt thương hại của đồng loại, chỉ còn hình ảnh yêu thương giữa con người với con người. Những hình ảnh mà các bạn có thể thấy đâu đó trong cuộc sống của mình. Họ cần sự giúp đỡ và cảm thông biết bao, những cánh tay của các bạn sẽ là những cánh tay của Chúa trên đường lữ thứ trần gian.

                                                            10. 7. 2007

 THĂM ĐẢO TIÊN

 Sáng hôm ấy bến tàu hơi bỡ ngỡ
Đón một đoàn du khách phương xa
Và đưa họ đến thăm hòn đảo Tiên cát trắng
Có những người khách xuống tàu, đầy cố gắng
Không phải bằng chính đôi chân của họ
Mà trên những bàn tay
Những bờ vai của nhóm tình nguyện viên sốt sắng.

  Tàu rời bến
Khập khiễng như dáng đi của người mang đôi nạng gỗ
Sóng dập dềnh
Bám vào mạn tàu, cố ngoi lên nhìn tận mặt
Những du khách phương xa có dáng đi kỳ lạ. . .
Cuối boong tàu, một cô gái mù
Nụ cười tươi tắn trên môi, cô lắng nghe
Tiếng sóng táp mạn tàu, vỡ xuống
Tiếng sóng vỡ trong lòng cô ấm áp
Vì ngọn lửa nhiệt thành của các tình nguyện viên trẻ khoẻ.
Quanh cô,
Hơi thở của họ còn đang dồn dập. . .
Mỗi khi ngọn sóng dềnh lên
Nâng con tàu tung tăng trên biển cả
Vài người bạn của cô tì chặt cây nạng gỗ
Họ cười rộ lên trong cảm giác phiêu diêu
Lần đầu tiên, thấy mình như mọc thêm đôi cánh
Tưởng chừng mình đang bay đến viếng đảo Tiên

 Đảo Tiên kia rồi! Ơ, đầy cuội trắng
Mấy người mù mắt nhắm, lắng tai nghe
Cuội trở mình lạo xạo tựa vào chân bụi cỏ.
Cô gái mù thầm đoán
Cuội tròn lăn vì sóng biển đùa giỡn với thời gian
Quanh cô,
Đầy ắp cả không gian với tiếng cười khanh khách
Dưới làn nước trong xanh của biển rộng
Các bạn cô đã cất nạng đi rồi
Họ cảm thấy tự do trong ánh nắng
Cứ mỗi lần sóng ùa vào thăm cuội trắng
Những bàn tay ấm nóng vội vươn ra
Nâng đỡ bao mảnh đời oằn lưng vì phận bạc. . .
Cô gái lắng nghe những tiếng cười hạnh phúc
Chút gì âu lo đã bỏ quên trong ký ức
Cô như thấy những đôi chân teo, co quắp
Dưới làn nước trong xanh của biển rộng
Không còn nữa cái xộc xệch của dáng người đi nạng gỗ. . .

  Cô gái mù nhìn thấy cả bầy tiên
Tiên đã chẳng muốn về trời
Cô lẩm bẩm:
"Chúa chẳng bỏ loài người! "
Chúa vẫn ở với con người trần thế
Qua tình yêu đong đầy ơn cứu rỗi.
Những người bạn của cô bất toại tật nguyền
Đã được hưởng bao phút giây tuyệt diệu
Bên bờ hòn đảo Tiên đầy nắng ấm
Viên cuội trắng bật lên tiếng reo vui:
"Chúa chẳng bỏ loài người! "
Cô thấy cuộc đời thi vị lắm,
Những hợp âm ì ầm từ sâu trong lòng biển
Nổi bật lên những tiếng cười hạnh phúc
Tiếng nói của sẻ chia
Tiếng thở gấp gáp của những tình nguyện viên sốt sắng
Đưa đoàn du khách trở về
Về lại bên kia, bến tàu đầy nắng ấm.

 Chào nhé đảo Tiên!
Cô gái mỉm cười, đôi mắt nhắm
Cô bước theo một đôi chân của Chúa
Cô vẫn mỉm cười
Tiên đã chẳng muốn về trời
Chúa đã chẳng bỏ về trời
Chúa vẫn ở nơi con người trần thế.

 8. 7. 2007

Sau chuyến đi thăm đảo Tiên. 

CON MẮT THỨ BA: NHÃN QUAN MỚI CỦA TÔI



 2/10/2010
“Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy!” (LC: 10, 23)

Tôi là một người mù 100%, nhưng nếu ai hỏi tôi xin Chúa điều gì, tôi sẽ không ngần ngại mà trả lời: “Tôi chỉ xin Chúa sự bình an trong tâm hồn!” Quả thật, khi đôi mắt tôi còn sáng, tôi đã không nhận ra nhiều điều Chúa muốn dạy mình qua Tin Mừng. Chỉ đến khi tôi trở thành một người mù 100%, trong tôi như có  một con mắt thứ ba khiến tôi nhìn Thiên Chúa như một người cha giàu lòng nhân hậu chứ không phải là một ông bố nghiêm khắc như xưa nữa. Chính sự thay đổi nhãn quan này giúp cuộc sống của tôi trở nên rất hạnh phúc: tôi không còn lo sợ thiếu ăn, không thuốc thang chữa bệnh, hoặc tuổi già cô đơn. . . Tôi chẳng muốn xin Chúa ban cho mình được sáng mắt, vì tôi tin rằng mình có một người cha nhân hậu ở trên trời, Người sẽ lo cho tôi tất cả! Dưới đây là lá thư tôi đã gởi cho Cha của tôi:

LÁ THƯ GỞI VỀ TRỜI

Cha vô vàn kính yêu,
Cha ạ, đã nhiều phen con sống như một đứa con hoang đàng, bất kể đến cha mình tựa cửa trông mong. Lúc ấy, con trẻ và khỏe, mọi sự đến với con đều thành
công dễ dàng. Lúc ấy, con cũng gọi là có chút thành đạt, Cha nhỉ? Lúc ấy, con rất tự tin ở mình, con ăn to nói lớn Cha nhỉ? Bây giờ ngồi nhớ lại con thấy
mình buồn cười và thậm chí lố bịch vì cứ tưởng ta đây là ngon lắm. Vậy mà Cha chẳng hề trách phạt gì con cả! Hồi đó, mỗi lần con làm điều xấu con lại lấm
lét sợ Cha phạt. Nhưng khi làm điều tốt thì chỉ để được thưởng công và cũng còn là vì sợ Cha sẽ phạt mình không làm những điều Cha mong muốn. con không
hề nghĩ đến tâm tư, tình cảm của Cha. Đối với con, Cha là một người Cha nghiêm khắc và đáng sợ, nghĩ đến Cha con chẳng thoải mái chút nào! Con nhớ lại
lúc con học giáo lý vỡ lòng, ma-sour nói rằng: “Vô nhà Cha mà không ngồi khoanh tay nghiêm trang thì bị ma quỷ nó thọc lét, hoặc là ngủ gật thì bị con
quỷ nó đánh đu trên mi mắt. . . Con sợ lắm!”
Ngày tháng trôi qua, nhiều sự việc xảy ra con đã chẳng tâm sự với Cha, cứ thế mà Cha con ta dần xa cách nhau. con trở thành đứa con hoang đàng thoát ra
khỏi cái nhìn của Cha. Con đã lao vào cuộc sống bon chen lờ đi cái sợ sẽ bị Cha trừng phạt vì con cũng chẳng thấy Cha phạt con bao giờ. Những phù phiếm
ở đời khiến tâm hồn con chai sạn dần. Mọi thứ với con đều O.K.! Cho đến một hôm, Bác sĩ bảo con nhập viện gấp vì mắt đã bị xuất huyết nặng rồi! con bình
tĩnh làm giấy tờ nhập viện và còn cảm thấy hãnh diện vì người ta cứ ngẩn ra nhìn một bệnh nhân ăn mặc thật “mốt”. . . Ngày hôm ấy con đã được mười bác
sĩ khám mắt và câu trả lời duy nhất là: “Y khoa không thể làm gì cho cô được nữa!” Con thầm bảo lòng mình để đêm xuống rồi mình sẽ khóc. Nhưng đêm xuống
con cũng chỉ khóc có một ít nước mắt rồi lại bảo để đến về nhà mình sẽ khóc vì ở bệnh viện khóc đâu có tiện.
Ngày hôm sau con lại nghe hàng loạt bác sĩ trả lời bằng câu nói y như hôm trước. con trở về phòng bệnh, căn phòng vắng vẻ vì bệnh nhân đã ra ngoài hết.
con thầm nghĩ tại sao mình không cầu xin Đức Mẹ? Và từ đó mỗi lần nghĩ đến cảnh bế tắc của mình, con lại đọc kinh Mân côi. Kinh Mân Côi là những liều thuốc
thần kỳ cho con vào giai đoạn ấy, sau mỗi lần thủ thỉ với Mẹ con luôn cảm thấy bình an. . .
Sự bình an khiến con có thời gian để nghe những đoạn Kinh thánh, và có tâm trí để nghiền ngẫm về Thánh ý của Cha. Chính Mẹ Maria đã dắt con lại gần với
Cha, con bước đi trong bóng tối mà thấy trời đầy nắng ấm. Ban đêm, con cũng không sợ mặt trời lặn và tin rằng có Cha ở kề bên. Khi mọi người trong gia
đình con không còn hy vọng mắt con sẽ được chữa khỏi lại là lúc con nhận ra tấm lòng bao la của Cha. Đấy là lúc con thấy mình gần gũi Cha hơn bao giờ hết.
Mỗi lần con làm gì sai trái, con buồn rầu sợ hãi tội mình thì con cảm thấy ánh mắt Giê-su rất khoan dung đang nhìn vào mình. Mỗi lần con cáu kỉnh vì ai
đó có chuyện gì lẩm cẩm, con lại cảm thấy Giê-su đang mỉm cười với mình, cái mỉm cười đầy hài hước để con dần thoát khỏi cơn bực bội.
Có những ngày thời tiết ảm đạm, lòng con cũng ảm đạm vì những cơn đau không thuốc chữa, con thấy Giê-su đứng đợi sẵn ở cửa sổ phòng mình. Rồi Giê-su nhẹ
nhàng lại gần lắng nghe con than thở, kêu xin nhưng Giê-su im lặng cho con xem hai chân hai tay bị đóng đinh. Khi tiếp một cú điện thoại vô duyên, với
sự bực bội con thấy Giê-su lắc đầu tỏ ý không vui. Khi xét đoán anh em, con thấy ánh mắt Giê-su nghiêm khắc lạnh lùng. Khi con làm được một việc giúp cho
ai đó, Giê-su nhìn con đầy vẻ khích lệ. Khi nhận ra mình nhấc ống nghe điện thoại lên, thay vì nói “A-lô”, con lại nói “A-men”, con nhận ra mức độ trầm
trọng của chứng rối loạn thần kinh: “cơn thiếu vắng ý thức”. Nhưng lúc ấy phản xạ tự nhiên của con là bật cười với chính mình, lúc ấy con không hề lo lắng
mà thấy Giê-su cũng cười với mình. Cha có bảo con chuẩn bị mua hòm không mà lại xui con nói Amen?. Cha ạ, con đã sắp sẵn hành trang rồi, lúc nào Cha gọi
thì con về với Cha đấy. Nhưng mà con đang học dở dang the course “ECONOMICS”, thầy giáo phụ trách môn này của Hadley School rất tốt với con, con sợ rằng
nếu Cha đón con đi vội quá sẽ không kịp e-mail cho Vileen. Rồi Vileen có chờ e-mail của con không nữa!
Nhưng Cha ạ, sáng nay khi xét mình để xưng tội, con nhận ra mình đã phạm lỗi với Cha nhiều quá! Con lại ngựa quen đường cũ rồi hay sao ấy Cha ạ! Con tự
cho mình là người con hiếu thảo, tự cho mình có quyền được hưởng đặc ân hơn những đứa con hoang đàng khác của Cha. Cha ơi, con thấy Cha thật là kiên nhẫn
và bao dung hết dõi mắt theo đứa con này lại chờ đợi đứa con khác trở về. Vậy mà con còn không biết gánh đỡ cho Cha gánh nặng ấy, lại còn nhởn nhơ hưởng
thụ những may mắn mà Cha dành cho con. Cha ơi, con sẽ cố gắng làm vui lòng Cha bằng những việc làm bé nhỏ nhất của con. Vì con chỉ có thể cho người bạn
của mình một lời an ủi, con chỉ có thể cho bạn mình một lời cảm thông. Con chỉ có thể tặng người qua đường nào đó một cái mỉm cười, và giúp người ăn xin
trước cửa nhà con một ly nước lã thôi Cha ạ! Khuya quá rồi con dừng bút đây. . .

Viết cho Cha từ căn phòng trọ ấm áp của con nơi trần thế,
Chủ Nhật IV mùa chay 2010
Vũ Thủy

ĐI TÌM HẠNH PHÚC

 Lúc nào đó, bạn thử lấy một mảnh vải đen che mắt mình để thử làm việc trong bóng tối khoảng một tiếng đồng hồ, Lúc đó bạn sẽ biết cuộc sống của người mù là khó khăn như thế nào. Nhưng chưa hết đâu, bởi lẽ bạn chỉ có một tiếng đồng hồ thôi. Những người mù phải đối diện với bóng tối cả một đời, với sự thiếu thốn vật chất lẫn tinh thần, với những nỗi phiền muộn do sự phân biệt đối xử của người đồng loại.

Nói thế, nhưng không phải là tuyệt vọng, chúng tôi có thể học tập, lao động , ca hát, chơi thể thao, làm thơ... như bao nhiêu người khác. Chúng tôi có thể sống vui tươi, vô tư như các bạn khi chúng tôi không bị cô lập (nghĩa là xin mọi người chung quanh đừng nghĩ rằng chúng tôi là người ngoài hành tinh và gạt chúng tôi ra khỏi những công việc bình thường.) Khả năng chúng tôi có, nhưng cần sự giúp đỡ của các bạn để phát huy nó. Không nhìn thấy nhưng chúng tôi có thể cảm nhận được thế giới xung quanh bằng những giác quan còn lại.

Một điều đáng buồn là chỉ thiểu số người khiếm thị sống lạc quan. Đa phần còn lại thường sống trong lặng lẽ và cô độc, vì hoàn cảnh gia đình, điều kiện sinh sống và sự tự ty mặc cảm. Họ có vẻ như đang chôn mình trong nấm mồ tăm tối. Vả lại, thường là cái nghèo đi đôi với người mù. Có một bạn nữ trong khi tâm sự với tôi đã thốt lên rằng : "cuộc đời của tôi khốn nạn, giấc ngủ của tôi cũng khốn nạn nốt!" Có người trách móc: "Tại sao cha mẹ tôi lại sinh ra tôi để tôi phải sống trong bóng tối khốn cùng này?" ...
Tôi thì may mắn hơn, đã trải qua cuộc sống như một người bình thường trong hai mươi mấy năm. Lúc tôi mới trở thành một người mù, tôi đã có những ngày tháng ảm đạm và dài đằng đẵng. Điều mà trước đây tôi không hề trải qua, vì tôi vốn là một cô gái rất tinh nghịch. Khi đó, tôi chỉ còn biết cầu nguyện với Chúa “Xin cho con biết con phải làm gì để không trở thành người vô dụng!”. Và Người đã hành động, khi những cơn bệnh trầm trọng của tôi bỗng nhiên lui dần. Tôi bắt đầu đi học chữ Braille, học sử dụng computer, học cách đi đứng sinh hoạt như người mù. tôi bắt đầu tiếp cận với những người mù có vẻ buồn bã, khắc khoải, thầm lặng. Tôi khuyến khích họ tâm sự, và lắng nghe tất cả những nỗi bực dọc, những nỗi buồn chán, tuyệt vọng... Giải thích cho họ về những điều rất đơn giản đến không thể ngờ, những khái niệm trừu tượng đối với người mù bẩm sinh.  Có những ngày tôi phải liên lạc điện thoại suốt mấy tiếng đồng hồ, để ngăn cản một người bạn trong cơn tuyệt vọng muốn nhảy lầu. Rồi tôi viết chữ Braille, dùng băng cát xét để dạy người bạn này học tập cho quên đi những khắc khoải...Tất cả những công việc đó thật là nhỏ bé, tôi đã cho những người bạn của tôi chỉ là một ly nước lã. Nhưng hiệu quả thật là bất ngờ, lớn lao!  Đôi khi, người bạn trước đây đã cho rằng cuộc đời cô ta thật khốn nạn, nói với tôi rằng: "Nhờ những lời khuyên của chị, bây giờ em cảm thấy cuộc đời em thật là có ý nghĩa." Một người bạn sau khi nghe tôi đọc bài thơ "Cô gái mù với ly cà phê trắng" qua đài phát thanh, đã phone để làm quen với tôi. Anh ta nói rằng anh đang sống rất vô vị, anh ngạc nhiên khi thấy một người mù lại có vẻ tự tin yêu đời như trong bài thơ đó. tôi cho anh ta bí quyết của tôi là học tập và làm tất cả những gì mình có thể. Bây giờ anh ta đã trở thành một người mù khá bận rộn, anh công nhận rằng: "Trước đây một năm tôi không biết cười, nhưng bây giờ tôi có thể cười được rồi...."
Tôi cảm thấy thật là hạnh phúc, và mong cho những người bạn của mình luôn được vui vẻ mãi . Vậy là khi tôi nghĩ rằng tôi cho họ lời an ủi và sự cảm thông, thì chính là họ đã đem đến cho tôi hạnh phúc. Và cứ thế những phiền muộn trăn trở của tôi đã biến mất, tôi trở lại với con người tinh nghịch trước đây.

Hầu như tôi quên mình là người mù, không gian quanh tôi rộn rã tiếng cười. Tuy thế, mỗi khi gặp một hoàn cảnh xấu số nào đó, tôi lại cảm thấy đau lòng, tôi lại rơi vào tâm trạng phiền muộn. Lúc đó tôi liền chạy đến Chúa để tìm nguồn ủi an. Cây Thập Giá vẫn còn đó, nó là biểu trưng của sự chiến thắng đau khổ. Tôi chợt hiểu ra rằng không có đau khổ thì không có hạnh phúc. Đó là một cặp phạm trù luôn tồn tại bên nhau.
Trong chúng ta chắc không ít người đã từng băn khoăn với câu hỏi: "tại sao Chúa lại để cho con người phải chịu những sự đau khổ, khi mà Chúa có thể giơ tay chữa lành tất cả những nỗi đau khổ đó?" Tôi cũng đã từng băn khoăn như thế, và tôi đã tìm được câu trả lời sau những đau đớn về thể xác lẫn tinh thần.

Tôi bị mù do biến chứng của bệnh tiểu đường type I. Một căn bệnh nan y mà tôi đã mắc phải khi mới 17 tuổi. Rất nhiều biến chứng như viêm đa thần kinh, viêm xương chậu và thoái hoá cột sống... Có nhiều đêm cơn đau quằn quại và khó chịu triền miên, tưởng chừng như không thể nào chịu đựng được . Những lúc ấy, bác sĩ và người thân của tôi chẳng giúp gì được cho tôi. Nước mắt cứ tự trào ra, tôi chỉ biết bám vào một câu kinh thánh: "Hãy đến với Ta! Hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng. Ta sẽ bổ sức cho các ngươi..." Tôi nghĩ về sự đau khổ của Chúa Giê Su trên Thập tự, và thường là tôi thiếp đi qua khỏi cơn đau. Những lúc ấy, tôi thường nghĩ đến những bệnh nhân đang trải qua cơn đau quằn quại của bệnh ung thư, những bệnh nhân tâm thần sống như một động vật và những người liệt giường từ nhiều năm. tôi cảm thấy cơn đau của tôi thật là bé nhỏ so với họ. Và những cơn đau của tôi hầu như không còn nữa. Tôi bắt đầu hiểu ra rằng, Chúa gởi đến trong thế gian những sự đau khổ của loài người để ta có thể ý thức được thân phận hèn mọn của mình. Cũng như chính sự đau khổ của Chúa, là để làm gương cho ta biết sống chấp nhận, và kết hợp với Chúa Ki-tô trong đau khổ.
Sau tất cả những cảm nhận ấy, tôi hiểu ra rằng hạnh phúc chỉ có được khi ta biết chia sẻ và quan tâm đến người chung quanh. Tôi nghĩ rằng ai cũng có những nỗi khó khăn, khắc khoải, khổ đau của riêng mình, chúng chỉ khác nhau về góc độ. Vậy, ta còn chần chờ gì mà không đi tìm hạnh phúc ở chung quanh ta ?
Bạn sẽ tìm thấy chung quanh bạn đang có những người còn đau khổ hơn mình, nhất là những người khuyết tật như chúng tôi. Họ ở đó chờ một lời an ủi, một cuộc thăm viếng, một sự cảm thông. Và đó chính là lúc bạn nhận ra cặp mắt đau đáu của Chúa Giê su trên Thập giá .
Phần tôi, Chúa đã ban cho tôi quá nhiều, Chúa mới chỉ lấy lại ở tôi một đôi mắt. Giờ đây tôi tin rằng Chúa đang làm những điều tốt đẹp cho tôi. Tôi xin sẵn sàng chấp nhận Thập Giá Chúa trao cho mình.
Tôi thật sự cảm ơn bạn đã chia sẻ với tôi những kinh nghiệm sống này. Chúc bạn luôn vui vẻ và yêu đời.

Ý NGHĨA CỦA MỘT GIẤC MƠ


  Đêm qua tôi vừa nằm mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ. Trong giấc mơ, tôi trở lại là một cô bé khoảng 13, 14 tuổi đang ngồi học bài. chợt tôi ngước nhìn lên qua cửa sổ, xa xa là cánh đồng lúa chín, xa hơn nữa là khu rừng rậm rạp, trong khu rừng ấy có một đám lửa khổng lồ đang tiến dần về phía rẫy lúa chín rộ của gia đình mình.  Tôi sợ hãi khủng khiếp, lòng quặn đau thắt vì nỗi lo cháy hết lương thực thì lấy gì mà ăn. Tôi chạy lại gần cửa sổ, nhoài người ra khỏi khung cửa và cầu cứu:
  -Chúa ơi, xin cho mưa đổ xuống trên cánh đồng lúa của con!
Tự nhiên tôi thấy mình bình tĩnh lạ thường và lại tiếp tục học bài, trong khi mắt tôi vẫn nhìn qua cửa sổ. Lạ lùng thay, khi đám lửa khổng lồ đến gần rẫy lúa của gia đình tôi thì một cơn mưa rào ập tới. Đám cháy tắt ngúm, bầu trời trở nên quang đãng. 
Rồi lại có đám lửa khổng lồ từ xa tiến đến nhanh một cách khủng khiếp như muốn nuốt chửng rẫy lúa nhỏ nhoi của tôi. Khi nó đến sát rẫy lúa, cơn mưa rào thứ hai lại ập xuống làm nó tắt ngúm. . . Lúc ấy tôi thấy có nhiều người chạy qua chạy lại phía trước, xôn xao bàn tán về đám cháy, tôi la lớn:
  -Chúa đã cứu giúp chúng tôi, Chúa đã cho cơn mưa đổ xuống đúng lúc để cứu chúng tôi!
Mọi người tỏ vẻ hoài nghi nhưng tôi vẫn khẳng định với họ như vậy lần thứ hai. . .
  Tôi bừng tỉnh và nhận ra mình vừa trải qua một giấc mơ. tôi bấm đồng hồ và nghe báo giờ lúc ấy là 3g15 sáng, tôi nhớ lại những chi tiết trong giấc mơ và tự hỏi tại sao mình lại mơ thấy điều ấy. Tôi chợt nhớ lại một điều không hẳn là tương tự như thế nhưng có lẽ Đức Mẹ đã nhắc nhở tôi điều gì chăng?
  Tôi nhớ lại một chuyện đã xảy ra với mình vào khoảng đầu năm 1998, thời gian ấy tôi thường ở nhà một mình vì mọi người đều bận công việc. Hôm ấy, khoảng 10 giờ sáng tôi nhận được phôn của em gái tôi gọi từ chợ Tân Bình về báo cho tôi hay:
  -Chị Thủy ơi, nhà trẻ Anh Đào ở gần nhà mình bị cháy rồi! Chị lo chạy đồ đạc đi!
Tôi bật cười, bảo nó:
  -Trời ơi, thân tao còn lo chưa xong mà còn kêu tao chạy đồ đạc nữa!
Lúc ấy tôi cho rằng nhà trẻ đó cách xa nhà mình nên chẳng đáng lo, tôi bảo đứa em gái:
  -Ui, nó cách nhà mình xa , không sao đâu! 
Một bà chị tôi đang buôn bán ở ngoài chợ Tân Bình cũng phôn về báo tin ấy. Chị cảm thấy khó xử vì không thể bỏ hàng đó mà về. Tôi đã trấn an chị ấy là chẳng có gì đáng lo ngại. Thế nhưng khi gác điện thoại xong, tôi bắt đầu cảm thấy một nỗi sợ hãi ghê gớm, nghĩ bụng nếu như đám cháy ấy người ta không cứu được, nó cháy lan đến đây thì sao? Tôi đi ra sân trước nghe ngóng rồi lại đi vào sân sau, tim đập thình thịch và bắt đầu nghĩ cách nào để thoát thân nếu điều ấy xảy ra. Nhà tôi lại nằm ở cuối một con hẻm cụt, nghĩ tới nghĩ lui, tôi thấy mình không có khả năng chạy một mình, vì lúc ấy tôi chưa thích nghi với đời sống của một người mù cho lắm. Nghĩ đến hàng xóm, nhà nào nhà nấy đóng cửa kín bưng gọi cũng chẳng ai để ý. Tôi lên sân thượng nghe ngóng, chung quanh vẫn bình thường chẳng có gì nhốn nháo cả, vậy mà sao tim tôi đập dữ dội? Tôi cứ nghĩ đến cảnh cháy nhà lan tới đây. . . cảm thấy nỗi lo sợ và bất lực dâng lên khủng khiếp.
Tôi còn nhớ như in lúc ấy mình đang đứng trên sân thượng, nắng chang chang làm rát cả mặt, nỗi lo sợ khiến đôi chân run lẩy bẩy; không biết làm gì hơn, tôi thầm thĩ:
"- Mẹ ơi, xin Mẹ cứu con, con bất lực và cô đơn lắm!"
Vừa mới dứt câu tôi chợt nhận thấy những giọt nước mưa rơi trên mặt, trên hai cánh tay mình. Một cơn mưa rào tuy không lớn lắm nhưng nó đủ để tôi cảm thấy một điều rất hệ trọng. Tôi vừa cầu xin thì Đức Mẹ đã can thiệp rồi vì trời mưa thì đám cháy sẽ được dập tắt. Ngay lúc ấy, tôi lại nhận được điện thoại:
  -Chị Thủy ơi, nhà trẻ hết cháy rồi!
Nếu như tôi nói đấy là một phép lạ mà Đức Mẹ đã làm cho tôi có lẽ nhiều người sẽ cho rằng tôi nói chuyện vớ vẩn. Nhưng tôi khẳng định chắc chắn Đức Mẹ đã luôn ở bên tôi và nghe lời cầu xin của tôi. Tôi tin chắc một điều cuộc đời tôi cho đến hôm nay, phép lạ đã xảy ra hàng ngày đối với tôi. Vì thế sau giấc mơ vừa rồi, tôi nhất định phải viết ra phép lạ Đức Mẹ đã làm cho tôi 10 năm về trước.

CHUYỆN LÃO NHÀ GIÀU & ANH LA-ZA-RÔ

                        Những câu hỏi & những câu trả lời

26/9/2010
Câu chuyện ngụ ngôn trong Tin Mừng hôm nay khiến tôi đặt ra hai câu hỏi:
1. Người phú hộ kia đã làm gì tội lỗi để phải xuống hỏa ngục?
2. Chàng La-za-rô nghèo khó đã lập được công trạng gì mà lên thẳng thiên đàng?
Chúa Giê-su hoàn toàn không đả động gì tới những điều ấy, vậy Chúa muốn nói với ta điều gì?
Trong suy nghĩ của tôi thoáng hiện lên bối cảnh của cuộc họp mặt lớp mà tôi đã tham dự cách đây mấy năm. . .
Đã nhiều lần bạn bè tôi tổ chức những cuộc họp mặt lớp như thế, nhưng tôi chẳng cảm thấy hứng thú gì mà tham gia. Lần ấy, có một thằng bạn Việt kiều ở Mỹ về, nó rất nhiệt tình mời nên tôi đã về họp mặt lớp.
  Điểm hẹn khởi đầu là một quán cafe, tôi cùng với S và L có mặt sớm nhất, chúng tôi chờ đông đủ sẽ kéo nhau đến nhà hàng để ăn uống. Tôi còn nhớ, đến ngay sau bọn tôi là T và K, hai anh chàng ấy nói chuyện rôm rả khiến bọn tôi cười rộ hết đợt này đến đợt khác. Tuy vậy, qua câu chuyện tôi biết hai thằng bạn tôi không gặp suông sẻ trong cuộc sống. Cả hai đều là công nhân, lương bổng thiếu trước hụt sau, nhưng có lẽ họ nói chuyện tiếu lâm phớt đời. Tôi lấy làm buồn cho K vì anh ta có vợ bị ung thư vào thời kỳ cuối không có tiền chữa bệnh. Trong đám bạn bè, tôi là người đã rút lui vào hậu trường từ lâu, nhưng chúng tôi đều biết rõ hoàn cảnh của nhau qua điện thoại. . . Khi chắc chắn sẽ không còn ai đến nữa, chúng tôi tìm một nhà hàng nhỏ ở Biên Hòa, chọn một căn phòng có kê dãy bàn liên kế để ngồi chung với nhau nói chuyện cho tiện. Tôi không cảm thấy lạc lõng mặc dù mình mù lòa bất tiện, bạn bè tôi rất để ý chăm chút cho tôi, thằng bạn Việt kiều là người bao bữa tiệc này, nó cẩn thận hỏi tôi để gọi món ăn kiêng cho riêng tôi, nhưng tôi nhất định từ chối.
  Hôm ấy chúng tôi có tất cả gần 30 người, chuyện cũ chuyện mới nói vọng qua nhau như ong vỡ tổ. Thỉnh thoảng lại có đứa móc điện thoại ra nói như hét vào máy để giải quyết công việc, có đứa dặn chồng đi đón con, có đứa gọi nhắc vợ đi tập thể dục thẩm mỹ. . . Chợt tôi nghe thấy rõ mồn một mẩu đối thoại giữa Tg và D.
  -Tớ mua cho bà xã cái xe vận tải để bà ấy làm ăn. Tớ mặc kệ bà ấy, muốn gì cũng chiều. Tiền tớ kinh doanh được bà ấy chẳng đếm xỉa!
Giọng Tg oang oang, Tg phải ngắt câu chuyện liên tục vì mobil phone của cậu ta cứ réo. Tôi đồ rằng cái phone ấy cực kỳ “xịn” vì tiếng chuông của nó cực kỳ lạ, tôi chưa nghe thấy ai xài bao giờ. Là người mù nên tai tôi rất thính và cảm giác rất nhạy bén, mặc dù ồn ào như cái chợ song tôi vẫn nhận ra giọng nói của từng người một. Tôi chợt nhận ra rằng T và K, hai anh chàng bạn nghèo của tôi suốt nãy giờ im bặt, không góp gì vào những câu chuyện tiếu lâm nữa. Có ai hỏi gì hai tay ấy trả lời có vẻ nhỏ nhẻ, trái ngược hẳn với lúc chúng tôi ngồi ở quán cafe. Tuy không nhìn thấy gì, song tôi biết cái im lặng nhỏ nhẻ ấy của hai bạn tôi là vì họ đang chứng kiến những gì diễn ra trước mắt. Có lẽ những cái điện thoại hiện đại, những bộ quần áo sang trọng, những chiếc xe đời mới, và cả giọng nói tự tin của những thằng bạn thành đạt đã khiến cho hai người ấy cảm thấy thiếu tự tin.
  Sau đó chúng tôi còn rủ nhau vào một phòng Karaoke ở gần đó, kéo dài cuộc vui cho đến tận chiều. Chúng tôi thay phiên nhau hát, vừa nghe hát vừa uống cafe. Tôi vốn là tay gây phong trào ở trường phổ thông ngày xưa, tụi bạn cứ khuyến khích tôi hát để xem người mù hát karaoke thế nào. Tôi chọn bài NẮNG THỦY TINH của Trịnh Công Sơn và bảo đứa bạn ngồi cạnh bên nhắc tuồng cho tôi. Rủ nhau đi hát vậy chứ tôi biết chẳng có mấy đứa hát cho ra hồn, riêng  Tg hát hết bản này đến bản khác. Cậu ta còn hát cả nhạc “in English”, và hát rất thuần thục. Tôi thầm nghĩ: “Tay này sẵn tiền, chắc là thường xuyên đi hát nên mới nhuần nhuyễn như thế, chứ ngày xưa mình có thấy cậu ta quậy cọ gì đâu!” Một lần nữa tôi lại hình dung ra vẻ mặt của T và K, tôi hết chịu nổi cảnh này nên đề nghị ra về. tôi biết còn ngồi đây là kéo dài cực hình cho T và K. Quả nhiên, vừa thấy tôi lên tiếng, T và K cũng kiếm cớ kiếu từ. Ngay vào cái giây phút ấy tôi đã có quyết định là sẽ không bao giờ tham dự những cuộc họp mặt lớp nữa, nó chẳng có ý nghĩa gì. Cái tôi mong muốn là bạn bè gặp nhau để chia sẻ buồn vui và giúp đỡ nhau chứ đâu phải để phô trương thanh thế. . .
  Suốt cả tuần lễ sau đó, tôi suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, tôi tự hỏi nếu mình không trở thành người mù thì liệu mình có là một trong những người như Tg, D, M, và A không? Nếu tôi ở trong trường hợp như T và K liệu tôi có mặt ở những cuộc họp mặt lớp sau đó không? Lạ thay, tôi cảm thấy may mắn vì nhờ mình bị mù mà đã thoát ra khỏi những ảnh hưởng vật chất tầm thường đó. Tôi cảm thấy ung dung tự tại với hoàn cảnh vô sản của chính mình, tôi đã có chỗ dựa vững chắc là lòng thương xót của Chúa,  đã từ lâu tôi không còn cậy dựa vào những của cải vật chất chóng qua.. .
  Trong lúc ngồi viết những hàng chữ này, câu trả lời cho những câu hỏi khởi đầu đã hiện ra trong trí tôi:
1. Ta sẽ là lão phú hộ giàu có kia nếu ta ung dung tự tại với những gì ta có,  cho dẫu ta là người vô sản.
2. Ta sẽ là La-za-rô nếu ta biết chấp nhận hoàn cảnh của mình và cậy dựa vào lòng thương xót của Chúa.
Nhưng hãy luôn cảnh giác vì ranh giới giữa hai người này trong thực tế vẫn có thể xen lẫn vào nhau.
  Lạy Chúa, xin cho con biết nhận ra chính mình và biết quan tâm đến những người khốn khó hơn con. Xin đừng để con ngủ quên trên cái ung dung tự tại của chính mình!


    Chủ nhật 26/9/2010

HỘI CHỨNG SỢ KIM ĐỒNG HỒ QUAY


25/9/2010
Thưa Chúa!
  Trái đất của chúng con đang nóng lên từng ngày từng giờ, nhưng chúng con đã không nỗ lực để giúp nó giảm nhiệt độ; trái lại, chúng con đang góp phần làm nóng Trái đất vì những ham muốn vật chất tầm thường. Viễn cảnh tương lai cho thiếu nhi thật là đáng ngại, con muốn mời Chúa đọc truyện ngắn "HỘI CHỨNG SỢ KIM ĐỒNG HỒ QUAY” của Vũ Thủy, đọc xong chắc Chúa cũng phải sốt ruột  thôi. Đọc xong rồi Chúa nhớ cứu lấy con cháu của chúng con, Chúa nhé! Tội nghiệp lũ nhóc, bố mẹ chúng mong chúng có thành tích để khoe với bạn bè hay sao ấy! Con cũng hy vọng Chúa viết một software để ngăn chận cái bệnh nghiện game online của trẻ con nữa... Nhưng chắc Chúa cũng không ngờ rằng, lũ nhóc tuy hời hợt thế mà lại nhớ đến Chúa ngay cả trong lúc chơi game! Con không dài dòng nữa đâu Chúa ạ!

                                    HỘI CHỨNG SỢ KIM ĐỒNG HỒ QUAY

  Ngày nọ, tôi có dịp đi thăm một ông bác sĩ chuyên chữa trị cho người bệnh tâm thần ở một đất nước có hình dáng cong cong như hình chữ S, Ông bác sĩ ấy là một trong những người bạn thân nhất của tôi, đãnhiều năm chúng tôi không gặp mặt. Chủ khách mời nhau trà nước xong, tôi hỏi thăm tình hình công tác của ông bạn thân, ông ta khoái trá khoe:
  -Tôi  vốn là thằng bác sĩ cà mèng  nhất bệnh viện, vậy mà có một năm nọ tổng kết thi đua tôi cũng được khen thưởng ông ạ!
Bạn thân được khen thì ai mà chẳng vui, tôi dồn dập hỏi:
  -Ông được khen kể cũng lạ! thế ông được khen vì cái gì?
Ông bạn bác sĩ của tôi cười nói:
  - Ở công ty của ông, khi người ta đạt chỉ tiêu cao thì được thưởng hay là chỉ tiêu thấp thì được thưởng?
  -Dĩ nhiên là người ta được thưởng khi đạt chỉ tiêu cao rồi!
  -Ông  nói đúng đấy, mấy tay bác sĩ trưởng khoa ở bệnh viện tôi đều đạt loại giỏi vì chỉ tiêu thi đua của họ rất cao. Còn tôi vì chỉ tiêu quá thấp nên không được danh hiệu bác sĩ giỏi. Nhưng tay Giám đốc bệnh viện tôi đầu anh ta bị làm sao ấy! Tay ấy an ủi tôi bằng cách thưởng cho tôi với lý do đạt chỉ tiêu thấp nhất bệnh viện về số bệnh nhân chết...
Bà xã của ông bạn tôi từ trong nhà bưng đĩa trái cây ra đỡ lời:
  -Ối giời ơi, anh bỏ quê hương mà đi, chồng em không có người chuyện vãn hóa lẩn thẩn! Chuyện của chồng em có gì mà lạ! Hồi lúc đứa con gái nhỏ của vợ chồng em học lớp Hai nó đạt danh hiệu học sinh xuất sắc. . . thầy, cô giáo ở trường ấy thành tích mới cực khiếp chứ!
  -Tôi biết con anh chị nó thông minh, học giỏi, chắc là cả trường có độ một vài em như thế. Anh chị quả là cực khiếp về cái khoản dạy con đấy!
Chị vợ hăng hái kể:
  -Năm ấy cháu về khoe với em là “Con được giấy khen HỌC SINH XUẤT SẮC nè má!” Em xúc động quá vội ôm con vào lòng hỏi nó:
  “-Ôi con má giỏi quá! Thế các bạn con thì sao?”
Nó bảo: “Các bạn con cũng được học sinh xuất sắc!” Em tròn mắt ngạc nhiên hỏi nó:
   -“Lớp con có mấy học sinh xuất sắc?” Nó đáp gọn lỏn: “36 bạn!”. Em sững sờ:
   -“Lớp con có bao nhiêu bạn tất cả?” Nó lẩm nhẩm tính rồi trả lời: “38 bạn ạ!” Lúc ấy em chợt hiểu ra, vội hỏi cháu:
   -“thế 2 bạn còn lại đạt danh hiệu gì hả con?” Nó dài giọng trả lời: “Hai bạn ấy là học sinh gio-ỏi má ạ!” Em vừa buồn cười, vừa nói như nói với chính mình:
   -“Nếu cho má chọn thì má chọnlà học sinh giỏi thôi con ạ!” tội nghiệp con bé ngơ ngác chẳng hiểu gì cả!
Hai vợ chồng ông bác sĩ còn ối chuyện để kể cho tôi nghe. Chuyện về trường của đứa con gái nhỏ rồi lại đến chuyện ở trường đứa con gái lớn, thế quái nào lại quay về chuyện bệnh viện. Vui chuyện đấy, nhưng còn mấy cái hẹn nữa nên tôi phải chào tạm biệt hai vợ chồng ông bạn quý.
Tôi ngoắc một chiếc taxi, đọc địa chỉ nhà cô em gái cho gã tài xế rồi ngả lưng vào ghế một cách khoan khoái. Gã tài xế lái xe bằng một tay vẻ điệu nghệ trong khi hắn vừa đủng đỉnh nói chuyện điện thoại di động, vừa nhấn chân ga liên tục, tôi cứ thầm phó linh hồn chuẩn bị về với Chúa. Chúng tôi nhích từng nửa bánh xe qua dễ có đến chục điểm kẹt xe suốt từ đoạn đường cầu Thanh Đa về đến Ngã Tư Bảy Hiền. Còn một đoạn đường nữa mới đến nhà cô em gái, nhưng vì quá sợ tay tài xế mạo hiểm, tôi bảo hắn ta cho xuống xe rồi đi bộ. Len lỏi qua những gánh hàng rong dọc theo các vỉa hè, những chiếc se ba-gác đậu nghênh ngang giữa đường, tôi tự hỏi cảnh sát giao thông bị treo còi hết rồi chăng? Đến nơi, tôi bấm chuông, thằng cháu cao lêu khêu và gầy như một que củi đon đả ra mở cổng:
  -Chào bác! Bác vào nhà chơi, đợi mẹ con một lát. Mẹ con đợi bác mãi vừa chạy ra chợ mua thêm trái cây bác ạ!
  -Thế bố con đi đâu?
Thằng bé đáp:
  -Bố con mắc chạy “sô” rồi bác ạ!
Tôi ngẩn ra:
  -Công ty bố con bây giờ làm việc cả ngày Chúa nhật cơ à?
  -Không! Bố con chạy “sô” theo em gái con vào các lớp học đàn, học vẽ, học Anh văn. . .! Thứ bảy với lại Chúa nhật, trường tiểu học được nghỉ, em gái con phải học liên tục các môn ngoại khóa theo lịch của mẹ con. Hai ngày cuối tuần bố con còn chóng mặt hơn ngày thường ấy chứ lị!
Rồi nó quay vào, bưng ra một ly nước lạnh mời tôi uống, nó ngồi xuống trước mặt tôi thở dài:
  -Bác ơi, cả nhà con bị bệnh rồi bác ạ!
Tôi lo lắng nhìn thẳng vào mắt nó sốt ruột hỏi:
  -Thế con bệnh gì? Mẹ con bệnh gì? Mẹ con mày bệnh hoạn lại còn bày vẽ chợ búa làm chi cho cực cơ chứ! 
Thằng bé mỉm cười làm tôi ngơ ngác:
  -Ơ, cái thằng này, thế mày bị bệnh tâm thần rồi à? Sao bảo bệnh mà cười tươi thế kia?
Đến lượt thằng cháu ngơ ngác hỏi:
  -Con  có bị bệnh gì đâu?
Chợt vỗ trán, hiểu ra nó cười hô hố:
  -Con bị bệnh đau đầu vì học thi tốt nghiệp, nhưng con bệnh thì nhẹ mà mẹ con thì bệnh nặng lắm bác ạ! Mẹ con bị sốt rất cao. . .
Tôi ngắt lời thằng bé:
  -Mẹ mày bệnh thế nào mà giấu bác?
Vẻ mặt nó bỗng trở nên thiểu não làm tôi càng lo lắng, nhưng nó đã nghiêm mặt nói:
  -Mẹ con bị bệnh sốt ruột do hội chứng “các bà mẹ muốn con đi du học nước ngoài” bác ạ! Mẹ con ở ngoài chợ suốt ngày nghe mấy bà chung quanh khoe con học giỏi về nhà cứ sốt lên vì con học không giỏi bằng con người ta! Con nhức đầu vì học thi thì ít mà nhức đầu vì phải nghe mẹ con ca cẩm thì nhiều.
Nói xong thằng bé đi lại bàn học của nó lấy ra một xấp giấy tờ đưa cho tôi coi, nó bảo:
  -Bác coi đi, đây là những tờ quảng cáo của các lò luyện thi, các trung tâm dạy Anh văn, những dòng gạch đỏ là do mẹ con đánh dấu để tham khảo đấy!
Vừa lúc đó mẹ nó về đến cổng, nó vội cất tập giấy báo vào chỗ cũ rồi quay ra nháy mắt với tôi. Cô em gái tôi đi xồng xộc vào nhà, một tay xách giỏ trái cây nặng trĩu, một tay cầm một xấp giấy báo chào tôi đon đả:
  -Em mới ra chợ mua cho bác những thứ trái cây  ngày xưa bác thích. Gớm lâu quá mới gặp bác, hôm nay bác phải ăn cơm với gia đình em một bữa mới được!
Rồi cô ấy vội quay qua thằng con quý tử, xòe ra tập giấy báo quảng cáo:
  -Này con xem đi, mẹ thấy người ta quảng cáo mấy trung tâm luyện thi trên Sài Gòn, toàn những thầy cô có bằng tiến sĩ, thạc sĩ thôi con ạ! Người ta đảm bảo học hết khóa là thi đậu đại học con ạ!
Thằng bé dường như hết chịu nổi, nó phát cáu:
  -Mẹ để con học đại đi, con thấy mẹ nên lo chữa bệnh cho mẹ hơn là lo cho con học đó!
Mẹ nó tức lên:
  -thằng này bất hiếu! Bác coi, em vô phúc . . . lo cho nó mà nó. . . Ờ! Mà tao bệnh gì mà mày bảo tao lo chữa bệnh?
Thằng bé lại nháy mắt với tôi rồi cười giả lả vuốt giận mẹ nó:
  -Thôi, để con lấy nước mát cho mẹ uống. Mẹ lo cho bác Cả đi!
Cơm nước xong, dùng dằng mãi mới chia tay được với cô em gái, tôi đi dọc theo dãy phố trước mặt mà lòng suy nghĩ miên man. Vừa thương cho những đứa cháu học vất vả, vừa thương cho đứa em gái mình đã bị cuốn vào một vòng xoáy danh vọng khó lòng thoát khỏi.
  Tới ngã tư tôi quẹo trái, đi thêm một đoạn trường tân thanh nữa mới tới trước cổng nhà chú  em út. Một đứa bé trai khoảng 8 tuổi đeo cặp kính cận dày cộm ra mở cửa, thằng bé nhanh nhảu chào bác rồi chạy vào gọi bố ơi rối rít.
Hai anh em ngồi vào bàn khách, thằng con cứ quanh quẩn bên cạnh, bố nó giục giã:
  -Vào học đi con kẻo không kịp ngày mai có bài kiểm tra toán đó!
Nó ngáp dài, ngáp ngắn rồi bảo:
  -Cho con nghỉ xíu đi, con học từ sáng tới giờ mệt lắm rồi! “Đi đâu mà vội, mà vàng. Mà vấp phải đá, mà quàng phải dây”, bố không thuộc câu ca dao tục ngữ này à!
Tôi cười với nó:
  -Ái chà! Thằng bé này ghê nhỉ? Biết áp dụng ca dao tục ngữ gớm đấy nhỉ?
Bố nó thở dài:
  -Con em nó văn võ song toàn, anh ạ!
Rồi quay sang thằng con, bố nó giục lần nữa:
  -Con không học thì không kịp đâu!
Nó trả giá:
  -Vậy bố phải để cho con chơi game online 30 phút rồi con mới có tinh thần học tiếp chứ! Con nít thì phải vừa học, vừa chơi đúng không bác?
Nó quay sang tôi tìm đồng minh, thấy thế tôi đành bảo chú em tôi cho nó chơi một tí cho nó tỉnh táo. Nhưng bố nó đã nói một cách dứt khoát:
  -Anh không biết đâu, thằng này nó cứ nhè lúc em có khách là nó giở trò không chịu học, chứ nó vừa mới chơi cả tiếng đồng hồ trước khi anh đến đấy!
Rồi chú em tôi lại kiên nhẫn quay sang thằng con dỗ dành:
  -Con học ngoan đi, mai bố lại cho con chơi nữa. bác sĩ bảo chơi game nhiều không tốt cho mắt con đấy!
Thằng cháu lém lỉnh của tôi gân cổ cãi bố nó:
  -“Việc hôm nay chớ để ngày mai” bố ạ, bố không nhớ câu tục ngữ này à!
Lâu ngày anh em mới gặp nhau, chú em tôi đành cho phép thằng con chơi game để nói chuyện với tôi. Tôi chiêu một ngụm mước trà, ngó vào góc phòng nơi đặt chiếc máy vi tính, thấy thằng cháu khí thế phấn khởi linh hoạt khác hẳn với nó trước đây 5 phút. Hai tay nó gõ chanh chách trên bàn phím, hai chân nhịp nhịp nhún nhẩy lắc lư cả thân mình một cách đầy phấn khích. Thỉnh thoảng tôi nghe nó kêu lên:
  -Gặp Chúa!
  -Về với Chúa đi con!
Lúc lại ngâm nghê trong cổ họng một điệu nhạc, lúc lại kêu lên “A-men”, lúc lại huýt gió hoặc búng tay đánh tách một cái. Chợt tôi nghe có tiếng đọc kinh cầu:
  -Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ, cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. A-men
Tiếng đọc kinh của thằng cháu tôi ngày càng nhanh càng phấn khích theo tiến độ gõ bàn phím của nó. Tôi hoảng hốt:
  -Chết chửa! Cháu làm sao thế kia, chú vào xem nó làm sao!
Bố nó tỉnh bơ, dường như đã quá quen với tình trạng này:
  -Nó có làm sao đâu! Chẳng qua nó được chơi game là nó hưng phấn thế đấy thôi!
Tôi độ rằng chú em tôi rất chăm lo cho con cái học giáo lý, đọc kinh cầu nguyện nên đã ngấm vào máu nó như vậy. Tôi hỏi:
  -Thế hai đứa con của chú đã có đứa nào được rước lễ lần đầu chưa?
Chú em tôi đáp:
  -Chưa anh ạ, thằng này đang học lớp khai tâm.
Con em gái nó năm nay 6 tuổi, học lớp một, em khuyên cháu học giáo lý chung với anh Hai, sang năm rồi con cũng sẽ học chính thức lớp khai tâm đấy. Nó bảo: “Thôi để sang năm con sẽ học luôn thể, chứ học bây giờ nhỡ người ta cải cách thì lại mất công, bố ạ!”
Bây giờ ở đâu cũng cải cách giáo dục nên con em nó cũng rành cái vụ này lắm!
Rồi đột nhiên chú em tôi thở dài đánh sượt:
  -Cái vụ internet mới ớn anh ạ! Hôm nọ thằng cháu nhà em vừa rời máy, em tính vào google “sớt” vài thông tin mua bán chứng khoán, em giật mình thấy trong nút “sớt” có lưu lại những chữ “sét” và “cực sét”. Em gạn hỏi thì cháu bảo bạn nó chỉ cho cách tìm web đen xem phim sét, thế là nó mò cách “sớt”. May quá thằng bé viết sai nên mò chưa ra anh ạ!
  -Mới hôm qua trường cấp II gần đây xảy ra vụ một học sinh lớp Chín nhảy lầu tự tử. . . Nguyên nhân là thằng bé nghiện game online học kém, bây giờ gần đến ngày thi, áp lực gia đình, áp lực nhà trường. . . Người lớn thì hoang mang suy nghĩ, những tưởng bạn bè, thầy cô lo lắng, vậy mà em thấy mấy nữ sinh lớp Bảy, lớp Tám đi ngang đây nói chuyện mới vui làm sao. Tụi nó dường như hãnh diện vì trường nó có học sinh làm anh hùng biệt kích dù mũ đỏ không bằng. Một con bé cười toe toét nói:  Trường mình bữa nay lên báo nổi tiếng lắm tụi bay! Sáng nay tao đi ngoài đường người ta thấy tao đeo bảng tên của trường mình, họ nhìn tao cực kỳ đắm đuối!” . . . Cái đận năm ngoái, một con bé lớp 7 bỏ học vì mê game online, nó đạt danh hiệu sát thủ game, nghe bạn bè nó bảo thế. . . Rồi nhiễm thế nào mà giết một đứa bé hàng xóm 3 tuổi để lấy một đôi bông tai. Công an truy lùng theo dõi suốt ngày đêm, thế mà nó vẫn tỉnh bơ đi chơi với đám bạn. Chính bố đẻ nó tưởng nhà có chuột chết đổ đi tìm, thấy một bọc ni-lon to tướng từ trong tủ quần áo của nó rơi ra thối hoắc. . . Bố nó sững sờ . . . công an ập vào. . .! Con bé mới 13 tuổi mà giết người không gớm tay! Xác đứa bé bị bẻ gẫy hai tay, hai chân. Nó chết vì bị khăn quàng đỏ xiết cổ, hai mắt mở trừng trừng cho thấy thủ phạm đã dùng vật nhọn đâm thủng mắt. . .
Chợt có nhân viên bưu điện đến thu tiền dịch vụ, chú em tôi phải đứng lên. Tôi còn đang suy nghĩ về những chuyện đau lòng mà tôi vừa được nghe thì có tiếng chuông điện thoại. Chú em nhờ tôi nghe hộ, tôi vội bước lại bàn giấy để nhắc ống nghe:
  -A-lô!
Giọng nói của một cô gái rất trong trẻo, dễ thương vang lên từ đầu dây bên kia:
  -Dạ thưa, gia đình có em bé 6 tuổi đến 15 tuổi không ạ?
Tôi lắp bắp:
  -Dạ, chúng tôi có một bé gái đang. . .
Tôi còn chưa kịp nói hết câu, sợ hãi vì có vẻ như mùi vị của một vụ bắt cóc hay sao ấy. . . thì đã nghe tiếng cô gái vui vẻ:
  -Dạ thưa anh, chúng em ở trung tâm gia sư, có nhận đến nhà dạy kèm cho trẻ em từ lớp Lá đến lớp Chín anh ạ! Nếu gia đình có nhu cầu. . .
Tôi thở phào, thì ra. . . nhưng vẫn lịch sự vì giọng cô gái rất ngọt ngào bên tai:
  -Ồ, tôi không phải đương sự, nhưng nhà này có một bé gái đang học mẫu giáo cô ạ!
Giọng cô gái chợt sôi nổi hẳn lên:
  -Dạ, đúng đối tượng chăm sóc của trung tâm chúng em rồi đấy ạ! Chúng em sẽ cử người đến tận nhà, chúng em có giáo viên chuyên luyện chữ đẹp và dạy cho cháu trước khi vào lớp Một. . . nếu gia đình có nhu cầu, chúng em còn cả đội ngũ giáo viên đảm bảo cho các cháu đến khi xuất ngoại du học. . .
Chú em tôi đã quay lại, giằng lấy ống nghe, nói cộc lốc:
  -Cảm ơn, chúng tôi đã có giáo viên rồi!
Vừa gác ống nghe, chú em vừa cười như mếu:
-          Cả ngày không biết có bao nhiêu cú điện thoại như thế, anh nghĩ, em còn sức đâu mà lịch sự với họ chứ?
-            -Thì cũng phải có cầu mới có cung chứ chú!
Bỗng dưng chú em tôi hăng lên như muốn đập vỡ một cái gì trước mặt:
  -Em là em quyết không để cho cái Hội chứng điên rồ ấy xâm nhập vào gia đình em đâu!
  -Chú bảo cái gì cơ?
Chú  em tôi liếc nhìn về phía thằng con đang mải chơi game, rồi thì thào với tôi:
  -Anh Cả có thấy chị Hai dường như sắp bệnh rồi không?
  -Thế chú cũng cho là cô ấy bệnh à?
  -Bệnh nặng ấy chứ lỵ!   Thời buổi kinh tế thị trường, mấy bà buôn bán ở chợ có tí tiền rủng rỉnh là gặp phải cái Hội chứng “muốn con du học nước ngoài” ấy rất dễ tẩu hỏa nhập ma anh ạ! !
Tôi nghĩ thầm trong bụng, có lẽ chú em mình cũng đang luyện “CỬU ÂM CHÂN KINH” của Kim Dung tiên sinh ở giai đoạn cuối:
  -thế là thế nào?
Chú em tôi dè cái giọng:
  -Thì. . . mấy bà ấy nghe lời tiếp thị của mấy cô như vừa nãy anh đã nghe đấy. . . Chị Hai không ép được thằng nhớn thì đã có em gái nó làm vật tế thần. Nó đang được cả một công nghệ giáo dục mới chăm sóc từ chân đến răng. . .
Điện thoại lại réo vang, chú em tôi ngừng lời để tiếp điện thoại:
  -A-lô!
Mặt chú em tôi dần chuyển sang màu tái mét:
  -Sao? Nó nói những gì? Hay là nó nghiện game online, em nghe người ta nói có nhiều đứa bị chứng này phải đi cấp cứu nhi đồng. . . chị đã đưa nó đi bác sĩ chưa? Thôi, để em bảo anh Cả sang với chị. Nhà em đưa con bé đi nha sĩ vẫn chưa về, em còn vướng cái thằng nhớn!
Rồi chú ấy quay sang tôi, vẻ mặt rất nghiêm trọng:
  -Con bé nhà chị Hai bị làm sao ấy, nó cứ luôn miệng kêu sợ, đòi quay ngược kim đồng hồ để không phải đi học. Nhà em bấn quá! Anh sang xem chị ấy có việc gì không?
Tôi lại lót tót quay trở lại nhà cô em gái, đến nơi thấy hai vợ chồng nhà ấy cãi nhau, chồng đổ cho vợ, vợ sợ quá nói càn. Thằng anh đang dỗ dành con em gái, nó bảo:
  -Ừ! Để tí nữa anh hai quay kim đồng hồ đến  9 giờ tối, 9 giờ tối là giờ không có thầy cô trung tâm nào dạy học cho học sinh tiểu học nữa. . .
Con bé lại khóc òa lên:
  -Nhưng đồng hồ sẽ lại quay đến 5 giờ sáng, em cũng phải dậy đi học! Anh phải tháo pin đồng hồ ra mới được!
Rồi nó lại ôm chầm lấy anh nó mà khóc. Tôi đến ĐỠ LẤY ôm nó vào lòng, vuốt nhẹ vào lưng nó dỗ dành:
  -Bác Cả bắt mẹ cháu phải cho cháu nghỉ học đàn, học Anh văn, học vẽ, học thể dục nhịp điệu luôn, cháu sẽ có nhiều thì giờ để chơi đùa với bạn cháu, chịu chưa?
Con bé dịu lại, nó đã chịu uống chút sữa. Uống được nửa ly sữa, nó lại ôm lấy tôi òa lên khóc nức nở:
  -Bác Cả ơi, cháu sợ lắm, cháu sợ mẹ cháu buồn vì mẹ cháu bảo cháu là niềm hy vọng cuối cùng của mẹ cháu. . .
Con bé cứ từng chặp bình tĩnh, từng chặp khóc lóc nói lảm nhảm, tôi thấy không ổn liền phone cho ông bạn bác sĩ:
  -Ông có quen với bác sĩ nào chuyên về tâm lý trẻ em không? Tôi có đứa cháu gái. . .
Bên kia đầu dây, ông bạn tôi đã ngắt lời:
  -Lại một case Hội chứng “sợ kim đồng hồ quay” phải không?
  -Ủa! Ông có vẻ đi trước thời đại quá vậy?
Bạn tôi cười đắc chí:
  -Mấy năm nay, thấy Hội chứng này xuất hiện khá nhiều ở trẻ em nên tôi quay sang chuyên khoa tâm lý trẻ em, đã lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ về rồi, ông không biết đấy thôi! Bảo bố mẹ nó đem nó xuống đây cho tôi. Nhưng này, nhớ làm công tác tư tưởng cho quý bà có Hội chứng “muốn con du học nước ngoài” trước đã nghe không!

  Tôi và mẹ con cô em gái ngoắc một chiếc taxi, tôi đọc địa chỉ nhà ông bạn bác sĩ cho gã tài xế rồi ngả lưng vào ghế để hồi tâm lại. Gã tài xế này cũng lái xe bằng một tay rất điệu nghệ trong khi hắn vừa đủng đỉnh nói chuyện điện thoại di động, vừa nhấn chân ga liên tục, tôi lại thầm phó linh hồn chuẩn bị về với Chúa. Chúng tôi nhích từng nửa bánh xe qua dễ có đến chục điểm kẹt xe suốt đoạn đường từ Ngã Tư Bảy Hiền đến chân cầu Thanh Đa. . . Tôi động não  nghĩ thầm, chắc là cảnh sát giao thông lại có cuộc họp bất thường để xử lý nội bộ như thường lệ chứ còn gì nữa. Tôi sốt ruột nhìn hai bên đường, những biển quảng cáo sáng choang với những ngọn đèn màu chạy liên tục, nhấp nháy đủ kiểu tạo cho tôi có cảm giác choáng ngợp về một chốn phồn hoa đô hội. Cảm giác ấy đã phần nào xóa đi trong tôi những cảnh nhớp nhúa, lôi thôi của ánh sáng ban ngày trần trụi, nhưng nó không thể xóa đi trong tôi cảm giác lo lắng về cái Hội chứng “sợ kim đồng hồ quay” kỳ quái kia.

    30/4/2010
                                              Vũ Thủy 


ÁNH SÁNG ĐỜI TÔI

Chúa Giê-su đã nói: “Ta là đường, là sự thật và là sự sống”, đối với một người mù như tôi, đó là con đường dễ đi nhất, bởi vì tôi không sợ bị vấp ngã. Trên con đường đó, tôi có một người bạn song hành. Người bạn đó sẽ chẳng bỏ rơi tôi cho dù tôi xấu xa, bướng bỉnh và đầy ích kỷ. Nhưng con đường đó lại là sự thật, mà sự thật thì không phải lúc nào cũng dễ chịu. Một sự thật chua chát khi con đường ấy là con đường đau khổ, con đường ấy là con đường vác thập giá. Nhưng chính Chúa cũng lại là sự sống, là nguồn ơn cứu rỗi cho linh hồn tôi. Phải chăng đó chỉ là một sự bám víu cùng quẫn, hay là một sự đọc thần chú cho qua cơn sợ hãi?
Không, đó là cả một quá trình sống và trăn trở của một tâm hồn luôn muốn vươn tới sự thật. Mỗi khi mở cuốn Kinh Thánh ra, tôi luôn luôn rờ thấy dòng chữ nổi “LỜI CHÚA LÀ ÁNH SÁNG ĐỜI CON” ở ngay trang đầu tiên. Tôi đã từng chấp nhận điều đó như một lẽ tự nhiên, và cho rằng đó là sự đúc kết của biết bao nhiêu người nghiên cứu về Kinh thánh. Thế nhưng Chúa đã làm cho tôi những điều kỳ diệu khiến ngày hôm nay chính tôi là người khẳng định: “LỜI CHÚA LÀ ÁNH SÁNG ĐỜI CON” chứ không phải ai khác!
Người đã làm gì cho tôi, một đứa con gái cứng lòng? Phải, từ khi mới 9 tuổi tôi đã là một đứa con gái rất bướng bỉnh và cứng lòng tin. Tôi lớn lên và sống đạo theo kiểu truyền thống gia đình, chứ không dễ tin vào bất cứ điều gì. Tôi thường lý luận theo kiểu dựa trên cơ sở khoa học chứ chẳng dễ tin vào ma quỷ thánh thần, cho dù tôi rất sợ ma. Tôi thường tỏ vẻ mạnh mẽ cho mọi người thấy, chứ quyết không chịu nhận là mình yếu đuối. Nhưng kỳ thật tôi thường lo lắng cho một tương lai đen tối đã được đoán trước của đời mình, khi vừa mới 17 tuổi. Lúc đó, theo thói quen chứ không phải vì lòng tin, tôi đã cầu xin với Chúa rằng: “Xin cho con đủ sức chịu đựng”. Rồi, như một câu thần chú, tôi đã vượt qua được nhiều thứ trong bệnh tật, học tập và lao động bằng cách lập lại lời cầu nguyện ấy. Tuy nhiên, mọi thứ dường như lại đâu vào đấy, tôi vẫn cứ lao vào tìm kiếm vật chất, tiền tài. Tôi thường bị bố tôi trách móc vì lười biếng đọc kinh thánh, song cũng không thể ép lòng vì Kinh thánh không hấp dẫn tôi bằng những cuốn sách khoa học, triết học. Đặc biệt là truyện trinh thám và những vụ án mạng, là món khoái khẩu của tôi... Cho đến khi tôi mù hẳn vào cuối năm 1993, khi sức khỏe càng ngày càng xuống cấp, khi chẳng có chút tiền tài danh vọng trong tay. Tôi đã bám víu vào Chúa như một người đang bơi giữa dòng sông bão tố vớ được chiếc phao. Trong suốt 8 năm đầu tập thích nghi với cuộc sống trong bóng tối và vật lộn với bệnh tật, tôi đã hiểu ra siêu giá trị của thập tự. Những ngày ấy, tôi bị những chứng đau nhức thần kinh, mất ngủ kéo dài, tay chân đi đứng khó khăn, những cử động rất nhỏ nhặt cũng khiến tôi đau ói mửa liên tục mà không thuốc gì ngăn nổi. Đôi khi tôi phải uống nhiều nước vào để có cái mà ói ra. Kỳ thực tôi cũng chẳng trông mong gì vào thế lực trần gian nữa, vì người nhà mang tôi đến bệnh viện rồi mang về với những đống thuốc mà tôi càng uống vào thì lại càng ói ra. Tôi cứ nằm chịu trận, chờ cơn đau đến rồi cơn đau lại đi, sau khi tôi đã phó dâng và suy nghĩ về những dấu đinh của Chúa Giê-su... Tôi cũng chẳng muốn rên rỉ tâm sự với ai ngoài Chúa giê-su, vì ai mà thích nghe những điều ấy mãi? Mỗi sáng tôi thầm mong Chúa gởi đến cho tôi điều gì đó mới mẻ, và mỗi ngày lại có những sự việc tuy nhỏ nhặt nhưng đem đến cho tôi niềm vui trong suốt ngày hôm ấy. Thế rồi, cứ khỏe lên một tí, tôi lại chẳng tâm sự với Chúa nữa, lại thích quan tâm đến những chuyện thời sự, phim ảnh, thể thao... những chuyện tào lao đâu đâu.
Giáng sinh năm 2001, tôi quyết định đi dự lễ tại nhà thờ Đức Bà, lễ này được tổ chức đặc biệt cho người khuyết tật. Mặc dù tôi đã nghe nói về chữ Braille, nhưng vẫn hết sức ngạc nhiên khi em gái tôi cho biết người đang đọc thánh Thư là một người mù. Giọng cô bé đọc rất dễ thương và trôi chảy! Sau đó, tôi tìm đến Mái Ấm Thiên Ân học chữ nổi và sử dụng computer với thầy Phong. Chưa hết, tôi lại gặp một trở ngại mà tôi và thầy Phong đã không ngờ đến. Những đầu ngón tay phải của tôi cảm giác rất kém, không cảm nhận được ký hiệu. Cuối buổi học thứ hai, khi tôi sắp phát khóc vì sợ rằng phải bỏ cuộc, tự nhiên tôi đưa ngón trỏ trái lên rờ vào hàng ký hiệu thì nhận ra cảm giác khá hơn. Cuối cùng, tôi cũng đọc được chữ nổi, tuy có chậm hơn bạn bè song tôi vẫn nhận ra rằng Chúa đã mở ra cho mình một cánh cửa rộng lớn từ đây. Tôi bắt đầu học tập và hòa nhập trở lại với cuộc sống bình thường. Tôi tự tin trở lại, giao tiếp, sinh hoạt với cộng đồng người khuyết tật và tập thể dục để tăng cường sức khỏe. Thời gian đầu, vì không có nhiều sách chữ nổi để đọc, tôi miễn cưỡng đọc những cuốn Kinh thánh. Tôi ngạc nhiên nhận ra rất nhiều điều thiết thực Chúa dạy mà trước đây tôi đã nghe như “nước đổ đầu vịt”. Tôi còn đem những điều mình nhận thấy có thể áp dụng đơn giản vào cuộc sống hàng ngày nói cho những thành viên trong gia đình biết. Đây là việc trước đó tôi chưa bao giờ làm! Mặc dù, cho đến hôm nay tôi vẫn chưa tập được thói quen đọc Kinh Thánh mỗi ngày, song có thể nói Lời Chúa chính là con đường cho tôi bước đi trong bóng tối của sự mù lòa. Con đường của Chúa thường dẫn tôi vào nơi sâu thẳm của tâm hồn để lắng nghe tiếng Chúa. Con đường ấy dẫn tôi vào thinh lặng để xem xét lại cách cư xử của mình đối với anh em. Con đường ấy dẫn tôi ra khỏi nơi phù hoa đô hội để tôi thoát khỏi sự níu kéo của vật chất phù phiếm. con đường ấy đã dẫn tôi lên đồi Gôn-gô-ta để hiểu ra ý nghĩa của sự đau khổ, và giúp tôi vác thập giá đời mình một cách nhẹ nhàng hơn: “HÃY ĐẾN VỚI TA, HỠI NHỮNG AI GÁNH NẶNG... HÃY MANG LẤY ÁCH CỦA TA VÌ ÁCH CỦA TA THÌ ÊM ÁI...” Chẳng phải Chúa đã chữa cho tôi khỏi sự mù lòa của tâm hồn đó sao?
Lời Chúa chỉ cho tôi cạm bẫy, hố sâu, vực thẳm để tôi khỏi sa chân lỡ bước. Lời Chúa chỉ cho tôi lối sống công bình, bác ái, và phục vụ anh em. Lời Chúa dạy cho tôi biết sống khoan dung với người anh em hèn mọn, yếu đuối nhưng không khoan nhượng những điều sai trái, gian manh. Lời Chúa giúp tôi hiểu ra rằng, nếu tôi tha thứ cho anh em mình thì tôi sẽ được bình an và tự giải thoát mình khỏi hận thù ganh ghét. Lời Chúa giúp tôi sống có mục đích, có ý nghĩa và sống dồi dào bất kể thân xác tôi đã tàn tạ vì bệnh tật và thời gian.
Cũng những đoạn tin Mừng ấy, nhưng trong mỗi hoàn cảnh, mỗi tâm trạng, mỗi tuổi tác, tôi lại cảm nghiệm ra những điều mới mẻ và cách ứng dụng khác nhau. Có lúc tôi giật mình nhận ra, tôi giống như một trong những người Pha-ri-sêu đắc ý hỏi Chúa Giê-su sẽ xử trí ra sao với người thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Biết đâu, tôi đã chẳng tệ hơn họ? Vì ít nhất họ cũng đã cụp đuôi bỏ đi, còn tôi, tôi đã bao lần quyết dùng lý lẽ để xét đoán anh em? Khi đọc đoạn Tin Mừng “NGƯỜI CHA NHÂN HẬU”, tôi nhận ra mình chính là đứa con hoang đàng chứ không biết mình đôi khi xử sự giống như người anh cả, tưởng mình là đứa con hiếu thảo mà không thấu hiểu nỗi lòng của người Cha...
Quả thật, LỜI CHÚA LÀ ÁNH SÁNG ĐỜI CON, đến bây giờ tôi nhận ra điều ấy không phải vì câu này được viết ra bởi những người nghiên cứu Kinh Thánh, nhưng bởi vì tôi đã được Lời Chúa soi tỏ. Các bạn biết rõ Mặt trời to lớn và tỏa năng lượng đến mức nào, song một người mù như tôi chỉ cảm thấy nó khi có nắng ấm. Vào những ngày mưa gió lạnh lẽo, tôi không biết có sự hiện diện của nó cũng như ánh sáng chan hòa tỏa ra từ nó. Trái lại, những dòng chữ nổi như những hạt cát li ti trong cuốn Kinh Thánh ghi lại Lời Chúa có sức mạnh kỳ lạ. Những khi một mình trong bóng tối rờ rẫm những dòng chữ đó, tôi lẩm bẩm đọc và tự hỏi Chúa đang dạy tôi điều gì? “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng... “Câu nói này của Chúa giúp tôi nhận ra bản tính kiêu căng của mình để mà sửa đổi...
Tương lai trước mặt có lẽ sẽ còn nhiều gian truân đối với tôi, rồi đường đời chông chênh sẽ xô đẩy tôi ra khỏi kế hoạch của Thiên Chúa. Nhưng, tôi tin chắc rằng nếu tôi cứ bám theo con đường của Chúa, Lời Chúa sẽ mãi là ánh sáng của đời tôi. Chính Lời Chúa đã gieo vào lòng tôi niềm tin tưởng đó, khi trong tin Mừng đã chỉ ra cho thấy Chúa chạnh lòng thương xót những người hèn mọn và tội lỗi như thế nào. Lời Chúa đã gieo vào lòng tôi niềm hy vọng vào sự khoan dung độ lượng của Chúa qua rất nhiều dụ ngôn về vườn nho và Nước Trời. Ánh sáng cứ thế ùa vào tâm trí tôi, tràn ngập không gian khiến tôi hầu như không còn trở ngại gì về đôi mắt mù lòa. Thậm chí ngay cả ban đêm căn phòng của tôi chẳng tốn tiền thắp điện. Nhưng chính Lời Chúa đã thắp lên trong tôi một niềm tin và hy vọng vào sự Phục sinh của Con Người. Cả điều này cũng đã được Chúa giê-su báo trước, và chính Chúa đã không bỏ mặc hai môn đệ đang thất thểu trên đường về E-mau, Người đã theo họ cả ngày trời để khôi phục lại niềm tin cho họ. Năm xưa Chúa đã dùng các dấu đinh của Chúa để khôi phục niềm tin cho Tô-ma, thì ngày nay Chúa cũng đã và đang củng cố niềm tin qua các việc Người làm cho tôi. Không những thế, tôi còn được chính Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh ở cùng, và là niềm tin chắc chắn cho tôi rằng: Thân xác này rồi sẽ thối rữa, nhưng linh hồn tôi sẽ trỗi dậy cùng với Người. Cho dù bây giờ tôi không có một bảo đảm về tiền tài, sức khỏe nhưng tôi luôn tìm được niềm hy vọng, cậy trông và đặc biệt là sự bình an từ Chúa Ki-tô Phục sinh, vì vậy mà tôi sống rất ung dung tự tại. Như Ma-đa-lê-na xưa thấy những sự việc xảy ra trong ngôi mộ trống của Chúa Giê-su , đã chạy về báo cho các môn đệ, tôi cũng muốn nói cho các bạn biết về những gì Chúa đã làm cho tôi. Từ một người mù lòa tưởng chừng vô dụng, tôi bây giờ trỗi dậy sáng tác thơ diễn tả sự kỳ diệu của Lời Chúa.
Viết trong ngày lễ Phục Sinh năm 2010
Vũ Thủy

CÔ GÁI MÙ TRƯỚC ÁNH BÌNH MINH

Cô mở mắt nhìn đời qua bóng tối
Mắt thêm nâu vì nắng đã ùa vào
Giọt ấm áp chìm sâu trong đáy mắt
ấm cả con tim, tâm hồn cô rộng mở
Lòng háo hức đón bình minh của Chúa
Có điều gì mới mẻ giữa tim cô
Cô hăm hở mỗi ngày còn đang sống
Uống từng giọt nắng vàng ươm như mật
Dù ngày mai cuối chân trời mây xám
Cô vẫn còn những giọt nắng yêu thương
Đã len lỏi vào sâu trong đáy mắt
Kể từ khi cô biết Chúa yêu mình
Cô gái mù nhìn thấy ánh bình minh
Luôn mang tới những điều thật mới mẻ
Những giọt nắng trẻ trung vừa thức giấc
Cứ hân hoan ôm trọn mỗi con người.